Chuyên mục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 1
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 2
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 3
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 10
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 12
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 16
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Phần 21
Phần 22
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 17
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 18
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 19
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Sách kỷ niệm
Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Kỷ Niệm Về Nhạc Sĩ Anh Bằng
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Phần 1
Phần 2
Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Văn học
Văn
Thơ
Nghệ thuật
3 videos clips của buổi TalkShow trên đài truyền hình BYN
Âm nhạc
Âm nhạc
Archive
Music Online

There seems to be an error with the player !

Hình ảnh
Video Clip
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 7
Thứ năm, 08 Tháng 12 2011 17:51
Mục Lục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 7
Danh sách Quí Vị yểm trợ VĂN ĐÀN ĐỒNG TÂM
Tất cả các trang

 

 

Text Box:  Trang  Phỏng Vấn     

CÙ HOÀ PHONG Sinh tại Hoà Phong, An Nhơn, Bình Định.Trước 1975 (VNCH): phục Vụ trong Ngành Viễn Thông. Năm 1991 cùng gia đình sang định cư tại Texas. Hoa Kỳ. *Nguyên Hội trưởng Hội Ái Hữu Quang Trung Houston & Phụ Cận, 2 nhiệm kỳ từ 2002 đến 2006. *Chủ trương Giai Phẩm Quang Trung và Web Site Quang Trung Bình Định Qui Nhơn (2000-2006)*Tồng Thư Ký Ủy Ban Xây Dựng Đài Chiến Sĩ Tự Do tại Tp. Houston & Phụ Cận.*Tổng Thư Ký Hội Cựu Chủng Sinh Làng Sông Qui Nhơn Hải Ngoại nhiệm Kỳ 2008-2012.*Thành Viên Tủ Sách Văn Nghệ Sài Gòn Nghĩa Thư.*Trước 1975: bài và thơ có đăng lai rai trên các báo Sóng Thần, Chính Luận, Diều hâu…*Từ 1991 đến nay: Thơ, biên khảo và bài có đăng trên các báo Thế Giới Văn, Doanh Nhân, Quang Trung, Cường Để & Nữ Trung Học Qui Nhơn, Liên Trường, Tây Sơn, Bình Định Bắc California, Cảnh Lực, Luật Pháp và Đời Sống, Sóng Thần Washington DC, Tin Văn, Trầm Hương, Văn Đàn Đồng Tâm…
*Tham gia cùng 50 Tác Giả Hải Ngoại trong Tuyển Tập Thơ Văn Hoa Vàng,
*Tham gia cùng 27 tác Giả trong Tuyển Tập Thơ Văn Nam Phong.*Tham gia trong Tuyển Tập thơ ba mươi tác giả cuả Thi Đàn Hương Thời Gian.*Có bài thường xuyên trên các Web và Diễn Đàn TAO NGỘ, THƠ VĂN, HUYẾT HOA, VĂN ĐÀN ĐỒNG TÂM…
*Hội Viên sưu tầm (Collector) Tiền, Stamps thư Việt Nam 45 năm qua & Thế Giớí.
Hội Viên Văn Bút Quốc Tế. Trước 1975 xuất bản tập thơ Hồn Nước Sau 1975: - Những Truyện Đồng Quê - Biên Khảo những phương pháp chữa bệnh trong dân gian -Dịch chuyển sang Đông Y Điều trị Bệnh -Tuyển tập Thơ Truyện: Quê Hương Trong Tâm Thức.

 

Cù Hòa Phong
Phỏng Vấn Nguyễn Hữu Nhật
Tác Giả Hoa Đào Năm Ngoái
(Ngọc Hân Công Chúa)

LTS: Hoa Đào Năm Ngoái, tiểu thuyết của Nguyễn Hữu Nhật, nhà xuất bản Tủ sách Văn Nghệ Sài gòn Nghĩa thư, Na Uy Oslo 2009; ra mắt lần đầu tại Paris ngày 13 tháng 12 năm 2009, dưới sự bảo trợ tinh thần của “Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tự Do Tại Pháp”, nhà văn Từ Trì và nhà văn Trần Thị Diệu Tâm giới thiệu tác phẩm và tác giả; nhà văn Vân Hải điều hợp chương trình “Ngày Họp Bạn Paris – Hoa Đào Năm Ngoái”. Hoa Đào Năm ngoái, 318 trang, thân chữ (font 10,5), khổ sách 13,8 cm – 21 cm, ấn phí 25 USD. Địa chỉ nxb: Helgesensgt 72 (L-604) – 0558 Oslo, Norway/ 96

Cù Hòa Phong:
Chào tác giả tiểu thuyết Hoa Đào Năm Ngoái viết về cuộc đời của Ngọc Hân Công Chúa trong bối cảnh lịch sử thời vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn và Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Cảnh Thịnh. Anh cho biết vì sao lại dùng chữ “tiểu thuyết” cho “Hoa Đào Năm Ngoái” thay vì “truyện dài” như thông lệ?

Nguyễn Hữu Nhật:
Xin chào nhà thơ Cù Hòa Phong. Thưa anh, ở nước ta, các nhà văn hồi đầu thế kỷ 20 thường dùng chữ “tiểu thuyết”, đến cuối thế kỷ 20 lại hay dùng chữ “truyện dài”. Bên phương Tây dùng chữ “novel”, nghĩa là “truyện mới”.
Nói chung, “roman, novel, fiction” đều được phần đông người mình gọi là “tiểu thuyết” hay “truyện dài”, để phân biệt với “truyện ngắn” (short story).
Hoa Đào Năm Ngoái không phải là một “truyện dài”, loại truyện danh nhân, bám sát đời thực, của ai đó, trong cuộc sống. Tiểu sử bà Ngọc Hân, trong chính sử, gom lại không đầy một trang A4, cho dù tôi đã “hư cấu”, mà cuối cùng cũng chẳng là loại “tiểu thuyết lịch sử” hay “tiểu thuyết dã sử”, như “Hoàng Hậu Margot” (La Reine Margot) của Alexandre Dumas (cha) (1802-1870), “Bà Chúa Chè” của Nguyễn Triệu Luật (1903-1946?), “Hồi Chuông Thiên Mụ” của Phan Trần Chúc (1907-1946)… Như “Anh Hùng Lĩnh Nam” của Yên tử Cư sĩ Trần Đại Sĩ… Cũng không phải là Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô gia Văn phái…

CHP:
Có quan niệm cho rằng “Đại thuyết là kinh điển của các thánh nhân viết như Kinh Thư, Kinh Thi…, đó là loại sách tư tưởng, triết học, gần như chân lý, kiểu khuôn vàng thước ngọc…. Trung thuyết do các hiền giả, sử gia thực hiện như Sử ký của Tư Mã Thiên. Còn tiểu thuyết, vốn chỉ những chuyện vụn vặt, đời thường.”

NHN:
Thí dụ tiểu thuyết “Cuốn Theo Chiều Gió” (Gone With the Wind) của nhà văn Mỹ, Margaret Mitchell, “Chiến tranh và Hòa bình” (War and Peace) của nhà văn Nga, Lev Nikolayevich Tolstoy... Có phải là loại “vụn vặt, đời thường” không? Không rồi!
Truyện Kiều, tiểu thuyết bằng thơ, có thật sự là “mua vui cũng được một và trống canh” không? Ngày trước, ở ngoài Bắc, nhiều người đọc còn “bói Kiều”, coi Đoạn Trường Tân Thanh như cuốn sách thiêng?
Nhưng không ít bạn đọc, mà tôi có dịp tiếp xúc, lại cho rằng “tiểu thuyết” là thể loại truyện “mơ mộng, lãng mạn, xa rời thực tế, nhảm nhí, hoang đường”… Nhẹ hơn, “tiểu thuyết” chỉ để “mua vui, giết thì giờ”!
Tôi dùng chữ “tiểu thuyết” cho Hoa Đào Năm Ngoái vì trộm nghĩ rằng, mình “có một điều gì đó” để “thuyết” trong cái “tiểu” luận “văn chính sử” về cuộc đời của Ngọc Hân Công Chúa. Lịch sử, Chính trị và Văn học luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau.

CHP:
Anh đã “thuyết” gì trong Hoa Đào Năm Ngoái?

NHN:
Thí dụ, ở bìa sau cuốn sách, tôi đã ghi tóm tắt:
“Bờ Nam, bến Bắc sông Gianh
Năm vua, một nước, tranh giành máu xương
Các quan lớn, nhỏ coi thường
Đời dân với lính trăm đường khổ đau!”
Lịch sử Việt Nam đã ghi rõ, xin tóm tắt:
1/ Cuộc phân tranh lần thứ nhất:
Loạn mười hai sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh và 11 sứ quân khác, từ năm 996 tới năm 998; ba năm,
2/ Cuộc phân tranh lần thứ hai:
Lê-Mạc, nhà Lê và nhà Mạc; từ 1527 tới năm 1592; 66 năm.
3/ Cuộc phân tranh lần thứ ba:
Trịnh-Nguyễn, chúa Trịnh và chúa Nguyễn, từ cuộc chiến đầu tiên năm 1627 tới tới trận đánh cuối cùng năm 1774; 48 năm.

CHP:
Tôi liên tưởng tới Cuộc phân tranh lần thứ tư:
Quốc-Cộng, từ năm 1954 tới năm 1975; 20 năm.
Có cần kể đến cuộc “phân tranh” lần thứ năm một cuộc “Phân tranh Tư tưởng”, tiếp tục giữa người Quốc Gia và người Cộng Sản từ năm 1975 tới…., theo anh bao nhiêu năm nữa?

NHN:
Theo thiển ý, nhanh, chậm, lâu, mau cùng tùy thuộc vào 3 yếu tố: Quốc nội, Quốc ngoại và Quốc tế…

CHP:
Hoa Đào Năm Ngoái dựa vào cuộc phân tranh Trịnh-Nguyễn, 48 năm từ năm 1627 tới năm 1774?

NHN:
Thưa anh, không! Chỉ trong bối cảnh lịch sử từ năm 1786 Ngọc Hân Công Chúa lấy vua Quang Trung tới khi bà mất vào năm 1779, một năm trước khi vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh thắng trận cuối cùng.
Tôi “dựng truyện”, không “chép truyện” cuộc đời Ngọc Hân Công Chúa dù đã cố gắng bám sát các dữ kiện lớn lao của lịch sử Đàng Trong và Đàng Ngoài:
1/ Chúa Trịnh lấn át vua Lê. (1780).
2/ Kiêu binh khống chế chúa Trịnh.
3/ Trương Phúc Loan lấn át chúa Nguyễn.
4/ Tây Sơn “diệt Trương, phò Nguyễn”
5/ Tây Sơn diệt Nguyễn.
6/ Chúa Trịnh chiếm Thuận Hóa.
7/ Tây Sơn chiếm Thuận Hóa.
8/ Tây Sơn “diệt Trịnh, phù Lê”
9/ Tây Sơn gián tiếp diệt Lê.
10/ Tây Sơn Nguyễn Huệ (Quang Trung) đánh nhau với Tây Sơn Nguyễn Nhạc (Thái Đức).
11/ Chúa Nguyễn đánh nhau với Tây Sơn.
12/ Tây Sơn Nguyễn Quang Toản (Cảnh Thịnh), con vua Quang Trung, cướp thành, chiếm đất của Tây Sơn Nguyễn Nhạc (Thái Đức), giết các anh họ.
13/ Tây Sơn suy vong. (1800).
Chưa kể các trận đánh giữa Tây Sơn với quân Xiêm La, Tây Dương, Mãn Thanh… Chúa Trịnh Bồng đánh nhau với vua Lê Chiêu Thống. Mạc Thiên Tứ, con cháu Mạc Cửu chống quân Tây Sơn… Vua Cảnh Thịnh cấm và diệt đạo Thiên Chúa…

CHP:
Với 13 vụ loạn lạc đáng kể như thế, chỉ khoảng ¼ thế kỷ, từ năm 1876 tới 1800, cuộc đời Ngọc Hân Công Chúa hẳn nhiều sóng gió, thăng trầm?

NHN:
Từ một Công chúa triều Lê, tới Hoàng hậu, Hoàng thái hậu nhà Tây Sơn, rồi thành một người tù bị giam lỏng của triều đình Tây Sơn Cảnh Thịnh (Bảo Hưng). Bà Lê Ngọc Hân sinh năm 1770, mất năm 1779 tại Phú Xuân; hưởng dương 29 tuổi; góa chồng từ năm 1782. Hai con bà, Công chúa Nguyễn Ngọc Bảo và Hoàng tử Nguyễn Quang Đức bị triều Nguyễn Gia Long giết năm 1881, 1882. Dòng dõi Nguyễn Tây Sơn bị tru diệt…

CHP:
Nói đến phân tranh là nói tới chia rẽ. Vì sao người mình thời xưa không đoàn kết được?

NHN:
Thưa anh, phải đoàn kết mới chống giặc ngoài được chứ! Lịch sử đã chứng minh, qua bao đời, về sự đoàn kết giữa vua, chúa, quan, quân, dân. Chỉ hay chia rẽ sau khi đất nước “sạch bóng quân xâm lăng”, hoặc bị”chia để trị”. Chỉ thường không đánh nổi kẻ nội thù, để đất nước hình thành hai giai cấp: Thống trị và nô lệ.
Giai cấp thống trị “chỉ tay năm ngón”, “ngồi trên, ăn trốc”, ngồi mát, ăn bát vàng”, “đục xương, hút máu”, “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”…
Giai cấp nô lệ thì:”Mài sừng cho lắm cũng là trâu”,”thấp cổ, bé miệng”, “con nhà sãi chùa lại quét lá đa”… Như hai câu thơ của Trần Ngọc Thụ thời này:
“Ông lão dưới ruộng đi bừa
Là con ông lão ngày xưa đi cầy”.
Hoặc như bài ca dao:
“Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cầy với ta
Cấy, cầy vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa trổ bông
Thì còn ngọn cỏ ngơài đồng trâu ăn,”
Hy vọng “cây lúa trổ bông” được ăn thóc; ai ngờ thất vọng, trâu vẫn phải... ăn cỏ, như lúc chưa đi...cầy.
Mối tương quan tàn bạo giữa hai giai cấp: “Mạnh được yếu thua”, “già đòn, non lẽ”, hoặc “cá lớn nuốt cá bé”, “khôn sống, mống chết”, “miệng nhà quan có gang, có thép…”, “còng làm, ngay ăn”… Bởi vua, chúa là con Trời, Thần thánh (Thiên tử, Thiên đăng). Các quan lại là cha mẹ của dân (Phụ mẫu chi dân).

CHP:
Chế độ phong kiến ở nước nào chẳng vậy?

NHN:
Trong cuộc nhân sinh, Chế độ Chính trị chỉ là cành ngọn. Tư tưởng Chỉ đạo mới là gốc gác. Thời nào người mình không tôn trọng Chủ nghĩa Cộng sinh, thời ấy người dân, thuộc giai cấp nô lệ, rất khốn cùng…

CHP:
Thế nào là Chủ nghĩa Cộng sinh?

NHN:
Nền minh triết của dân tộc Việt, Cộng Sinh, gói tròn trong lời vàng, ý ngọc “bầu ơi, thương lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, thể hiện cái tinh thần “hòa nhi” mọi “bất đồng”? Cộng Sinh từ tư tưởng, ngôn ngữ, chủng tộc, đến giai cấp, nghề nghiệp, giới tính… Dù có “khác giống” vẫn “chung một giàn”. Việt nam Cộng sinh, là phải Cùng Sống, Sống Chung, mới hình thành được cái Đạo Làm Người “kính Trời, thương Người và yêu Đất”, cộng thêm lòng Từ ái của nhà Phật, Nhân ái của Khổng Tử, Kiêm ái của Mặc Tử, Bác ái của Thiên Chúa giáo để… Cùng Chung, Cùng Sống. Đấy là Tình Cảm. Còn Lý Trí? Phải thể hiện được Tinh thần Công bằng của Chúa Jesus và Thân tâm Bình đẳng của nhà Phật, trên nền tảng Nho học: Nhân, nghĩa, Lễ, Trí Tín, hoặc dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”… Khi anh em một nhà, bác cháu một họ không Cùng Sống với nhau được thì nhà Tây Sơn phải bị suy vong vì “đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”. Hoa Đào Năm Ngoái hàm ý nhấn mạnh tới “thuyết “ Cộng Sinh.

CHP:
Anh muốn “lập thuyết” trong “tiểu thuyết” Hoa Đào Năm Ngoái, mà anh gọi là “văn chính sử”?

NHN:
Thưa không, chuyện ấy lớn lao quá so với sức tôi. Tôi chỉ muốn đọc lại lịch sử, tìm tòi xem vì sao mà:
“Bờ Nam, bến Bắc sông Gianh
Năm vua, một nước, tranh giành máu xương
Các quan lớn, nhỏ coi thường
Đời dân với lính trăm đường khổ đau!”

CHP:
Qua Hoa Đào Năm Ngoái, hình như anh muốn chống Tư tưởng Độc tôn, Độc trị, Độc tài, Độc đảng? Các thức “độc” đó xa lạ với Chủ nghĩa Cộng sinh?

NHN:
Anh còn nhớ định luật Murphy không, có từ năm 1949, cho thấy: “Nếu trong nhiều cách, có một cách sai, sẽ có người thực hiện cách sai đó”. Một con người, một dân tộc muốn sống “hạnh phúc”, phải được “độc lập”, phải có “tự do”. Muốn có “độc lập, tự do”, phải có sức mạnh của đoàn kết, vì “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, “khó bẻ cả bó đũa”. Chắc chắn đó là một định luật. Và một định luật khác: “Độc tôn, Độc trị, Độc tài, Độc đảng là gốc gác của mọi sự chia rẽ” vì những thứ ấy đều được nuôi dưỡng bằng “Chính sách Bạo lực, Ngu dân”. Tệ hại nhất là Chia rẽ Dân tộc. Nói gì lịch sử xa xưa, ngay thời nhà Nguyễn Gia Long đã thống nhất đất nước rồi, mà thi hào Nguyễn Du còn phải kêu lên về sự chia rẽ:
“Mùa thu khói sóng lộng ngời
cát bằng ngóng bãi biển trời nổi trôi
Hai bờ non nước chia đôi,
các triều đại cũ, mốc trôi giữa giòng
Vàng bay lá rụng khắp vùng
cỏ phơi xương lính lấp cùng lũy xưa
Người miền Bắc hết ganh chưa,
ba mươi năm trước ta vừa cùng Châu.”
(Trích “Đọc Thơ Chữ Nho Nguyễn Du” của NHN.)

CHP:
Như vậy chuyện đời Ngọc Hân Công Chúa chỉ là cái cớ để anh ngầm gửi một thông điệp nào đó?

NHN:
Thưa anh, tại sao chúng ta, như dân tộc mình qua bao thế hệ, ở đâu và lúc nào cũng mong muốn “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” mà ít nhất suốt trăm năm qua vẫn không thấy nước mình được “độc lập, tự do, hạnh phúc”? Một câu hỏi thường có nhiều câu trả lời. Nhưng câu trả lời nào được kể là ít sai nhất? Trong khi Ông Bà mình xưa từng dạy:
“Nên ra tay kiếm, tay cờ,
Chẳng nên thi chớ, chẳng nhờ tay ai
Khôn ngoan đá đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau!”

CHP:
Trong Hoa Đào Năm Ngoái có nói đến năm vua một nước Việt từ thời vua Lê Cảnh Hưng tới vua Gia Long. Chính sách ngoại giao của các vị ấy với Tàu ra sao?

NHN:
Thời vua Cảnh Hưng Lê Hiển Tông, 1717-1786, việc nội trị, đối ngoại đều do phủ chúa Trịnh nắm giữ. Họ Trịnh giành tước Vương, lập phủ Chúa từ năm 1545 tới năm 1787, 142 năm, sử liệu cho thấy chưa một chúa Trịnh nào tỏ ra ươn hèn trước quân phương Bắc. Khởi từ Thế minh khang vương Trịnh Kiểm, 1545-1570, tới Án đô vương Trịnh Bồng, 1786-1787, gồm 10 vị chúa Trịnh, không khiếp sợ “Thiên triều”.
Nhưng Lê Chiêu Thống, 1786-1787, tức Lê Duy Khiêm hay Lê Duy Kỳ… Thống đã dạy Lê Quýnh: “Ngươi từng dốc lòng với ta, việc nước cũng đã được quá nửa rồi. Vậy nay hãy cố gắng làm cho tròn công trạng trước, đừng để người trong nước có thể bàn tán về ta, và thiên triều có chỗ quở trách được ta.”

CHP:
Đối ngoại: Đừng để “thiên triều có chỗ quở trách được ta.” Nội trị: “đừng để người trong nước có thể bàn tán về ta.” Ngày nay thì kiểm duyệt Web, Blog.

NHN:
Chưa hết, Lê Chiêu Thống lại còn nói với Phúc An Khang, sủng thần của Càn Long: “Chúng tôi không giữ được nước nhà, may nhờ thiên triều cứu viện, dù cả nước phải ăn mặc như người Trung Quốc, cũng xin vâng lệnh. Việc ấy còn có tiếc gì?”
Thua cả cận thần Lê Quýnh, mắng nhà Thanh: “Đòi ta đến ngỡ là để giáp mặt mà bàn bạc, nay té ra lại chẳng bàn bạc gì, mà chỉ toàn bảo gọt đầu, gióc tóc và đổi đồ mặc. Chúng ta đây, đầu có thể chặt, tóc không thể cắt, da có thể lột, đồ mặc không thể đổi!”
Năm Kỷ Dậu, 1789, quân Thanh thua trận ở Thăng Long, Lê Chiêu Thống chạy theo Tôn Sĩ Nghị về Tàu; cố nài xin vua Thanh, nếu không đem quân sang nước ta lần nữa, thì “xin cho lại hai châu Tuyên Quang, Hưng Hóa để thờ tổ tiên, hoặc lẻn vào Gia Định để mưu đồ việc khôi phục, nhỡ có gặp sự bất trắc thì sống chết cũng liều.” Nhà Thanh không trả lại châu nào hết!

CHP:
Đó là dâng biếu không có sắc chỉ, công hàm…

NHN:
Còn vua Quang Trung đối với Tàu? Chiến thắng long trời, lở đất năm Kỷ Dậu, 1789, dẹp tan khoảng 20 vạn quân Thanh, bắt nguồn từ Tinh thần Yêu nước, Giữ nước qua Hịch Truyền Đánh Quân Thanh, quyết liệt:
Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng, đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ...” Nhấn mạnh tính chất Tuyên ngôn Độc lập ở chỗ:
Nam quốc anh hùng chi hữu chủ!”
Dân tộc Mãn bị Hán hóa. Còn dân tộc Việt chống Hán-Mãn hóa bằng cách đánh giặc Hán-Mãn để giữ gìn phong tục nước Nam, “nhuộm răng đen, không gióc tóc; để tóc dài, không cạo đầu và không tết đuôi sam”, không theo hủ tục bó chân như Hán Mãn Thanh…

CHP:
Còn vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh?

NHN:
Ngay lúc đang nhờ Tây Dương, nhà vua vẫn nhắc các cận thần: “Hãy đối xử tử tế với người Âu, nhưng phải hết sức tỉnh táo trước các tham vọng của họ.” Nhưng bộ Hoàng Việt Luật Lệ (tức Luật Gia Long hay Quốc triều Hình luật, gồm 22 quyển) đã lấy “gần như nguyên mẫu Luật Nhà Thanh”. Óc nô lệ Tàu khá nặng.

CHP:
Thưa anh, nói về “tính chất” vua chúa trong Hoa Đào Năm Ngoái như vậy tạm đủ. Còn “tính cách” của các vua chúa thì ra sao?
NHN:
Tóm lại;
1/ Thứ nhất, được làm vua, thua làm giặc.
2/ Thứ hai, vua hay giặc đều do mạnh được, yếu thua. “Được làm vua, thua làm giặc.”
3/ Thứ ba, mạnh hay yếu do thủ đoạn cao hay thấp.
4/ Thứ tư, chính và nghĩa chỉ là khiên với mộc, dẫu là kẻ cướp cũng cần nêu cao chính nghĩa.
5/ Thứ năm, chính nghĩa hàng đầu vẫn là nhân danh, ngụy danh.
Tất cả những ông vua đó, kể cả các vua Lê, cũng đều là “chư hầu” của nhà Thanh, bên Tàu, một thứ nhà Chu: “Coi tất cả đất đai thuộc về thần thánh, và họ là những đứa con của thần thánh vì vậy tất cả đất đai và dân cư đều thuộc về họ”. Tồi tệ nhất, là bệnh cậy công, kể công khởi từ ý nghĩ “đất nước này ta không chiếm, thì kẻ khác cũng chiếm”. Chiếm xong, tự coi đất nước như của riêng dòng họ, con cháu, phe cánh, bè đảng. Đúng là: “Giang sơn gấm vóc này không của riêng ai hết!”?
Dù “làm vua” chỉ là làm vương hầu cho các hoàng đế Trung Hoa, hàng năm thường phải triều cống kim thân, người bằng vàng, cùng thợ giỏi, gái đẹp...
Trời cho có nhân tài nào, nước ta phải đem triều cống, thời nào may còn vài nhân tài, đâu vực nổi nước.
Người tài của đất nước, như lúa giống giành cho ruộng đồng, hễ của anh nông dân này, thì anh nông dân khác nhổ sạch.

CHP:
Kể công gì?

NHN:
Công cầm đầu, lãnh đạo đất nước chống ngoại xâm, trong khi công ấy thuộc về toàn dân. Thời nào cũng thế!
Vương triều nào cũng nghĩ mình là chính thống.

CHP:
Anh cho biết rõ hơn về diều ấy?

NHN:
Tệ chính thống, độc tôn, độc đoán bởi “chính sự ở đầu thanh gươm, ngọn dáo”, như đã nói, theo lối mạnh được, yếu thua; cá lớn nuốt cá bé. Ý thức Cách mạng là già đòn, non nhẽ. Tiêu diệt triều đại trước, bằng bạo lực, và bị hủy diệt bằng bạo lực của triều đại sau.
Bạo lực nối tiếp bạo lực; ở giữa là bất công, với máu cùng nước mắt trăm họ. Không triều đình nào biết ơn dân, đã giúp mình, đánh thắng ngoại xâm; trăm họ sống cảnh “dịch chủ tái nô”, hết nô lệ giặc ngoài lại tới nô lệ thù trong. Nhà Lê, các chúa Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn đều vắt kiệt sức lực tinh thần, thể chất của dân, qua các cuộc binh đao, sưu cao, thuế nặng.

CHP:
Nhưng chủ trương của vua Quang Trung là:
“No ấm, đối với dân, là chính nghĩa. Yên vui, đối với nước, là chính danh. Giữ được yên vui, no ấm lâu dài cho dân với nước mới đáng gọi là chính thống.”

NHN:
“Chủ trương” là điều sẽ làm, chưa phải việc đã làm. Nhà vua còn mong muốn: “Thứ nhất, thống nhất bờ cõi; thứ hai, yên kẻ trong, nuôi kẻ ngoài; thứ ba, đưa cõi đời này lên cảnh thái bình.” Chính trị, kinh bang, tế thế, chỉ có ba điều ấy thôi. Tiếc rằng nhà vua mất sớm.

CHP:
Hình như bạo lực đẻ ra chính thống?...

NHN:
Từ khi có sông Gianh, chia đôi hai bờ Nam Bắc, thì nước ta không còn, nói rõ hơn là không còn tính chính thống; hoặc tính chính thống chỉ có trên giấy tờ. Chúa Trịnh, chúa Nguyễn đều dùng niên biểu vua Lê, nhưng không ai buồn tôn trọng tính chính thống của nhà Lê. Tính chính thống, của các vua ta, do vua Tàu phong cho, cũng như nước “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”; mấy trăm năm, nhà Lê chính thống, triều cống hàng năm, mà nhà Thanh vẫn bỏ rơi Lê Chiêu Thống để chọn nhà Tây Sơn. Khi nhà Nguyễn Tây Sơn đổ, triều đình nhà Thanh lại coi nhà Nguyễn Gia Long là… chính thống.
“Gia Long cho người đem toàn bộ ấn sách nhà Thanh trao cho Tây Sơn trả lại và xin phong vương.”

CHP:
Trong “tâm cảnh” và “bối cảnh” lịch sử thời đó, “tình cảnh” của dân chúng sống chết ra sao?

NHN:
Như đã nói ở trên, chính các ông vua, ông chúa, ông quan, ông tướng hình thành những tập đoàn nhiễm thói “nhà Chu coi tất cả đất đai thuộc về thần thánh, và họ là những đứa con của thần thánh vì vậy tất cả đất đai và dân cư đều thuộc về họ”. Khi nông nghiệp là chính mà nông dân không được quyền làm đất đai, thì điều gì sẽ phải xảy ra bởi “người cày không có ruộng nương”? Ngu, nghèo, đói. Đói, nghèo, ngu. Vòng oan nghiệp!
Chưa kể, nghề cầy, cấy hàng năm tùy thuộc vào trời, đất, mưa thuận gió hòa hay như nhà thơ Bùi Giáng viết:
“Nỗi niềm hè hạn, thu mưa
Là tâm sự của quê mùa nông dân!”
Dân cầy, thợ cấy, lính tráng bao đời trăm cay, nghìn đắng, đói rách tận cùng vì sưu cao, thuế nặng ; mất mùa, thất học, cùng nạn đục xương, hút máu của giới thống trị, mang tên vua, chúa, quan, tướng và quân “có công giữ nước.”? Giai cấp thống trị với mọi mưu thâm, thủ đoạn tàn độc, ác hại đều được dùng cho việc “giành dân, chiếm đất”, kể cả “cõng rắn về cắn gà nhà”.

CHP:
Dân chúng dưới thời Tây Sơn Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản (con vua Quang Trung) sống ra sao?

NHN:
Anh nghe thử vài đoạn của Hoa Đào Năm Ngoái:
“Trong thành Hoàng Đế cũng không đủ ăn. Bên ngoài, mất mùa; bên trong, quan, tướng ăn chặn lương lính; ở giữa, lính thường hay vào làng quấy nhiễu nhà dân; dân nghèo, chưa ngã bệnh, bỏ ruộng hoang, nhà trống rủ nhau đi ăn mày hoặc cướp bóc. Từng xâu dài tù binh đeo gông, đi qua cổng chùa Thập Tháp, nom tựa hồ như những bộ xương, nghe nói là họ sẽ bị đầy lên mạn Tây Sơn thượng, vùng rừng thiêng, nước độc để đốn cây, xẻ gỗ, đóng thuyền chiến và giường, tủ, bàn ghế cho nhà các quan. Nhiều dinh thự đêm ngày trổi nhạc, bắt con gái đẹp từ các vùng về làm hầu thiếp...”
Ngay tại kinh đô:
“Dân quê nghèo khổ rách rưới lũ lượt bỏ làng ra Phú Xuân, bu quanh các bến đò lớn, đông như ruồi. Ngày nào cũng có người chết đói. Trẻ con thiếu sữa khóc như mèo gào. Có người vớt cả bèo ăn, nhai gau gáu.” Nói chung: “Những vùng đất đang chiếm được thì dân tình quá khổ, vua quen xa hoa, quan lại tham nhũng, giặc cướp nổi lên, mất mùa, bão lụt...” Tới nỗi dn âvùng Tây Sơn còn mơ ước: “Bao giờ cho cả gió Nồm. Cho thuyền chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra.”, vì đất Tây Sơn bây giờ không còn Tây Sơn Vương nữa!”
Dân chúng dù ở đâu và bao giờ cũng nghĩ:
“Ai làm vua, làm quan họ cũng chẳng cần biết, miễn họ được no ấm thôi.”

CHP:
Nạn tham quan, ô lại ra sao?

NHN:
Mỗi người chỉ mong sao tự cứu được mình; khỏi bị chết oan, khỏi bị bức bách, khỏi bị lăng nhục, tù đầy, khỏi đói khát; thời của quỷ... Triều đình Gia Định và Phú Xuân không cách nào diệt được nạn tham ô, buôn lậu, bóc lột dân... Phần đông vợ con, họ hàng các văn thần, võ tướng âm thầm làm những việc đó; họ đút lót cho bản nha, quan lại, đóng thuế nhiều cho các triều đình; chi cho vua quan, thì phải thu từ dân chúng; ngoài việc mua chuộc lính tráng, dưới tay họ toàn là bọn Ưng Khuyển, lưu manh. Không còn ranh giới “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, cả hai như nhau, là một; lưu manh phất lên, có tiền, lại mua tước, tậu chức.
Dân của Nguyễn Ánh thì mong Tây Sơn vào cứu; dân của Tây Sơn thì chờ Gia Định ra cứu...

CHP:
Một cổ hai tròng?

NHN:
Khi phe Nguyễn Ánh giành dân, chiếm đất, chiếm được từ Hà Tiên đến Phú Yên; nhưng để dân chạy đi hết thì lấy ai cầy cấy, lấy đâu gạo thóc nuôi quân; lấy đâu người để bắt lính; nên quân Gia Định ra sức đuổi bắt lưu dân; phe Tây Sơn, ở thành Hoàng Đế, dàn quân ngăn chặn lưu dân, không cho vào Qui Nhơn, sợ quân địch trà trộn, sợ dân đói nổi loạn như thời Trương Phúc Loan... Bên đuổi bắt, lại bên ngăn chặn, chẳng bên nào giúp cơm áo, gạo tiền cho họ sống tạm qua ngày.
Dân chỉ biết than trời, oán đất, bồng bế, dắt díu nhau chạy tới, chạy lui.... Lưu dân về làng cũ làm sao sống được giữa cảnh đồng khô, cỏ cháy?... Nhà nào ở Diên Khánh, Phú Yên có người trốn đi thì cả nhà còn lại bị trừng phạt theo lối “ngũ gia liên bảo”; chỉ người già mới được cấp thẻ bài, cho phép đi ăn mày; bởi người già không đi đâu được xa... Trái lệnh là bị đánh roi, gông cổ, đi phu, đi tráng đào hào, đắp lũy không công; đàn bà, con gái thì vào đội kiếm củi, thổi cơm, gánh nước hoặc làm trò chơi cho các quân doanh. Bị giết...

CHP:
Những cuộc tàn sát nối tiếp nhau trong Việt sử?

NHN:
Nội trong sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí, của Ngô gia Văn phái, người đọc đã đếm được khoảng 150 chữ «giết». Khoảng 148 chữ «giết» trong cuốn Việt sử Tiêu án của Ngọ Phong Ngô Thì Sĩ; một chữ «giết», ít nhất chứa 30 năm, chỉ kể từ năm Tân Mão, 1771, đến năm Tân Dậu, 1801, Tây Sơn dấy nghiệp và suy tàn, ba mươi năm, bao nhiêu vạn người chết? Có tài liệu nói cỡ nửa triệu dân? Còn lính? Nỗi kinh hoàng, đâu chỉ ở số người chết oan, què quặt, mù lòa... chưa thấy sử gia nào ghi nhận, mà ở chỗ: Sau khi sông Gianh nối lại hai bờ Nam Bắc, lòng dân cả nước vẫn chia lìa Bắc, Nam!

CHP:
Anh cho biết thân phận người lính nước ta thời ấy?

NHN:
Trong bối cảnh lịch sử: “Nội nhà Tây Sơn đã ba vua, Nguyễn Ánh ở Nam Hà cũng muốn làm vua, thêm Giám quốc Lê Duy Cận ở Bắc Hà, cũng là một thứ vua. Một nước năm vua. Chỉ dân chúng là cùng khốn. Bắt cả trẻ con mười lăm, mười bảy đi lính. Sưu cao, thuế nặng, đi phu, đi phen liên miên...” ... Phần đông họ, lính tráng, ở tuổi mới lớn, phải sống xa nhà lâu ngày; đời lính không biết sống chết lúc nào, đã biến họ thành những con người phần đông yếu ớt mà bề ngoài làm ra vẻ mạnh mẽ… Sự yếu ớt thường lộ ra rõ nét sau thời chiến: Mất lý tưởng Quốc gia Dân tộc, hình thành những Tập đoàn Thống trị, dựa trên bạo lực, cửa quyền, ăn cắp, ăn trộm và ăn cướp được gọi là tham ô, tham nhũng, lãng phí...
Nỗi cô đơn lớn nhất thuộc về dân chúng, bị bức hại trăm bề, không kêu cứu vào đâu được. Thuế má ngập đầu, thêm nạn đi phu, bắt lính, đất đai, gạo thóc bị thu gom, quan tham cùng lính ác múa gậy vườn hoang. Mọi chuyện tham ác đều vin vào cớ vì việc nước. Sức mạnh nằm trên đầu ngọn dáo... Đây là câu nói về vua, quan, lính, đầy tức giận của một ông già ở làng Bồng, ngoài thành Hoàng Đế, “... Lúc chống ngoại xâm thì quá tử tế, sau đó rất đểu cáng, coi dân không bằng gà, chó...”

CHP:
Hình như thời nào cũng có kiêu tướng, kiêu binh?

NHN:
Bởi thời nào cũng chiến tranh! Xin nghe, “ Trịnh Tông than: “Bức bách nhau thế này, thà đừng lập làm chúa còn hơn!” Kiêu binh càng xem vua chúa, quan quyền chẳng ra gì, càng thả cửa bóc lột dân chúng.
Không phe phái nào chịu học hỏi Tôn Võ Tử, ở chiến lược binh thư cao cấp, rằng: «Chiến tranh là sự hao tổn nguyên khí, vì vậy phải chấm dứt càng sớm càng tốt.» Lúc nào và ở đâu “người mình” cũng sẵn sàng đánh năm năm, mười năm, năm mươi năm, đánh tới bao giờ thua, thắng rõ rệt? Cả đất nước trở thành trại lính?
Nguyên khí Quốc gia là gì? Vua Lê Thánh Tông, 1442-1497, thì cho rằng: «Hiền Tài là Nguyên khí Quốc gia.». Chiến tranh giết hại nhiều người hiền tài.
Sự thật là như thế.
“Ai thắng ai” rồi cuối cùng cũng nô lệ giặc ngoài, bởi đất nước vẫn không thoát khỏi cái vòng thù trong: Ác, ngu, nghèo, bẩn. Bẩn nhất là Tâm thức Độc tài!
Cách mạng toàn... bánh vẽ.

CHP:
Có một cuộc Cách mạng Nông dân Tây Sơn không?

NHN:
Chỉ là cướp chính quyền. Bao nhiêu người lính trẻ chết trận. Bao nhiêu người dân lành tan cửa, nát nhà, thác oan để thay thế bằng một Trương Phúc Loan khác, là Bùi Đắc Tuyên, Thái bảo Mân của Tây Sơn, vẫn trò bóc lột, đục xương, hút máu người dân…

CHP:
Tại sao dân chúng trước thì nô nức theo nhà Tây Sơn, sau lại chán chường bỏ nhà Tây Sơn. Anh có thể cho biết về sự sai lầm lớn nhất của nhà Tây Sơn?

NHN:
Thứ nhất:
Khi dựng nghìệp, lấy của cải của nhà giàu phân phát cho người nghèo. Lúc cai trị, lấy của cải của người nghèo củng cố cho nhà giàu. Nhà giàu càng giàu thêm. Nhà nghèo càng nghèo đi.
Thứ hai:
Không thật lòng “phù (chúa) Nguyễn, diệt Trương (Phúc Loan)” và chẵng thật sự “phù (vua) Lê, diệt (chúa) Trịnh”.
Thứ ba:
Trong giòng họ Nguyễn Tây Sơn, cùng lúc, có hai vua: 1/ Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc và Vua Quang Trung Nguyễn Huệ. 2/ Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc và vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản.
Thứ tư:
Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản trực và gián tiếp triệt hạ Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc và hậu duệ. Giết hại các công thần Tây Sơn. Kỳ thị Nam, Bắc hà.
Thứ năm:
Triều đình Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản cấm đoán và tiêu diệt người dân theo đạo Thiên Chúa...

CHP:
Theo luật Hiệu ứng Cánh bướm Butterfly effect, Lý thuyết Hỗn loạn, thì một nguyên nhân này sẽ lan ra những nguyên nhân khác. Tạo thành một chuỗi những hậu quả chồng chéo, đan kết lẫn nhau? Anh nghĩ sao?

NHN:
Vâng, theo nhà Phật, mười hai nhân duyên, ở đời này không có gì đứng biệt lập cả, nhất là lịch sử. Thuyết Butterfly Effect của Edward Norton Lorenz thật đúng, khi nói về “Tính dự đoán được: Liệu con bướm đập cách ở Brasil có thể gây ra cơn lốc ở Texas?”.
1/ Vì Tây Sơn không “diệt Trương, phù Nguyễn”, sau khi diệt Trương lại diệt luôn Nguyễn, nên Gia Long Nguyễn Phúc Ánh buộc phải dấy binh báo thù, thế yếu, nhiều phen thất bại, cuối cùng phải nhờ Tây Dương...
2/ Vì Tây Sơn không “diệt Tịnh, phù Lê”, sau khi diệt Trịnh xong, lại diệt luôn Lê; nên An nam Quốc vương Chiêu Thống Lê Duy Khiêm buộc phải chống Tây Sơn, dẫn tới việc cầu cứu nhà Thanh.
3/ Vì một nhà hai vua, nhà Tây Sơn, vua Thái Đức với vua Quang Trung; vua Thái Đức với vua Cảnh Thịnh. Nên lúc nào một mình Tây Sơn cũng bị “đa đầu thọ địch”: Nhà Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, nhà Thanh, Tây Dương, sĩ phu và dân chúng Nam, Bắc hà...

CHP:
Cùng năm vua Quang Trung đại thắng quân Thanh, vua Thái Đức mất Gia Định về tay Nguyễn Phúc Ánh. Anh cho biết vì sao Lê Chiêu Thống đã chạy sang Tàu?

NHN:
Tây Sơn trên danh nghĩa, không diệt Lê, chỉ đòi khao quân sau khi Tây Sơn có công diệt Trịnh. Khao quân bằng cách nhà Lê phải dâng đất từ Thanh Hoa tới Thuận Hóa. Trong khi Lê Chiêu Thống chỉ xin khao quân Tây Sơn bằng tiền bạc.
Hãy nghe tướng Tây Sơn, Vũ Văn Nhậm, nói với sứ giả: “Vua Lê đã không giữ nổi nước nhà thì các trấn từ Thanh Hoa trở ra, chúng tôi không lấy, người khác cũng sẽ lấy. Nghệ An là một mảnh đất cỏn con, cắt hay không cắt có quan hệ gì đến việc mất còn của nước nhà mà phải đi xa xin xỏ cho mất công trèo non, lội suối. Tôi chỉ e rằng con chim đã lìa tổ, đến lúc bay về lại không có cành để đậu nữa mà thôi!”
Trước đó, Lê Chiêu Thống đã viết một quốc thư, dài, khẩn khoản, có đoạn: “...Vả lại, hồi đó đã vâng lời quý quốc vương dụ rằng: “Quả là đất đai của nhà Lê, một tấc cũng không lấy”. Nay nếu khao quân bằng đất thì không bằng khao quân bằng của. Vậy xin tính số thu nhập hàng năm của đất ấy, dùng làm chi phí khao quân; rồi cứ hàng năm đưa đến biên giới, làm thành định lệ lâu dài. Xa trông quý quốc vương xét cho, để trọn tình hòa hảo của hai nước. Cả nước chúng tôi đều lấy làm may lắm!”. Đã chiếm Thuận Hóa, Quảng Nam, Quảng Bình, lại muốn chiếm tới Nghệ An của nhà Lê?

CHP:
Cầu cứu tới nhà Thanh là điên rồi!

NHN:
Vâng, cơn điên của một người, cha bị giết chết, kho tàng Thăng Long bị vét sạch, cô ruột lấy chủ tướng “giặc lông đỏ” Tây Sơn, chống mình; văn thần, võ tướng phủ của phủ chúa Trịnh, theo Tây Sơn, cùng với quan tướng Tây Sơn lấn quyền vua Lê...

CHP:
Ai vét sạch kho tàng của chúa Trịnh ở Thăng Long?

NHN:
Bằng trung công Nguyễn Hữu Chỉnh, người mai mối cho Nguyễn Huệ lấy Ngọc Hân Công Chúa, than:
“Bao nhiêu vật liệu, khí giới và các báu vật lấy được ở Bắc về, Thượng công đều thu chứa lấy. Vua Tây Sơn sai sứ thần tuyên triệu, Thượng công không chịu về triều. Mọi việc phong quan, ban tước và xử trí này khác, Thượng công đều tự tiện quyết định. Vua Tây Sơn sai người đưa ấn phong Thượng công làm Bắc bình vương và hỏi những thứ của báu lấy được ở phủ chúa Trịnh. Thượng công cũng chống lại không chịu dâng lên. Vua Tây Sơn giận lắm. Vì thế, anh em mới gây ra cuộc binh đao, ở trong một nhà mà đối với nhau còn dữ dội hơn là đối với nước thù địch.”(Hoàng Lê Nhất Thống Chí.)

CHP:
Lê Chiêu Thống tin vào Thiên triều nhà Thanh, sông liền sông, núi liền núi; môi hở, răng lạnh; mà thành Việt gian. Tưởng nhà Thanh chỉ giúp nhà Lê đánh Tây Sơn xong rút quân về Tàu. Anh nghĩ thế nào?

NHN:
Nỗi quốc nhục ấy, bắt nguồn từ câu nói, của Nguyễn Hữu Chỉnh, thưa với Nguyễn Huệ, sau khi vào Thuận Hóa mới là sự thật: “Nay ở Bắc Hà, tướng lười, binh kiêu, triều đình không còn kỷ cương gì cả, ta thừa thế mà đánh lấy, như trong sách đã nói: “Chiếm nước yếu, đánh nước ngu, lấy nước loạn, lấn nước suy vong”. Cơ và thời ấy không nên bỏ lỡ!” Hiệu ứng Cánh bướm!
Đằng sau những câu nói đó là tham vọng của những thanh gươm sắc bén về ngôi cao cùng vàng bạc. Nhưng ai cũng phải nói vì nhà vua và trăm họ; theo ý Trời. Đến nỗi Tôn Sĩ Nghị, tướng nhà Thanh, cũng vin vào Trời:
“Nước An Nam từ đời Hán, Đường, là đất phụ thuộc vào nước ta; đến đời nhà Tống, họ Đinh quật cường, mới trở thành nước tiến cống. Trải mấy đời nối theo nhau cho đến ngày nay, lại không thể giữ được nước. Hoặc giả trời khiến nước ấy lại làm quận huyện của Trung Quốc chăng?”(HLNTC.)

CHP:
Thời nào chẳng có Việt gian. Anh nghĩ sao?

NHN:
Xin nghe, An nam Quốc vương Lê Chiêu Thống đã nịnh hót giặc Tàu: “Đội ơn đại hoàng đế, đức cả như trời, không sao hình dung được cho hết. Lại nhờ cụ lớn hạ mình tới đây, khiến cho nước chúng tôi được thấy ánh sáng của áo cừu, đai ngọc, được thỏa lòng ngửa trông sao Bắc Đẩu, núi Thái Sơn. Mối tình vui mừng, kính mến, không sao kể xiết!” Cụ lớn là Tôn Sĩ Nghị.
Trẻ con, ở Thăng Long, đã truyền miệng câu hát:
Hư Cấu
Son sắt tình Việt Hoa,
mừng anh em một nhà.
Môi hở, răng lạnh cắn,
rách nát hết thịt da.
Bởi Tôn Sĩ Nghị đã vỗ về vua Lê Chiêu Thống:
“Chuyến này sang đây, giúp việc kinh lý, trước hết cần bắt cho hết đảng giặc, rồi sau chỉnh đốn quy mô, làm kế lâu dài. Bao giờ mọi việc đều muôn ngàn lần ổn thỏa rồi, bấy giờ mới rút quân, xin chớ lo gì về việc nước nữa.”

CHP:
Anh cho rằng Lê Chiêu Thống chủ trương liều mạng “thà để mất nước, chứ không chịu mất nhà Lê”?

NHN:
Có lẽ, Thống đã tâu:”Ba trăm năm nay, nước chúng tôi nhờ đội oai đức của thiên triều, đời đời giữ chức phiên phong, trong nước yên lặng. Chẳng may vận nước giữa chừng gặp buổi suy vi, vua trước qua đời. Nguyễn Huệ Tây Sơn là rể nước tôi, quên ơn bội nghĩa, nhân khi nguy biến, đánh người trong lúc có tang...»

CHP:
Dòng họ Nguyễn Phúc đã bị Tây Sơn bức bách?

NHN:
Sau khi diệt Trương Phúc Loan, lẽ ra Tây Sơn phải trả lại đất đai cho chúa Nguyễn; nhưng Tây Sơn Nguyễn Nhạc, muốn làm vua, dù đã gả con gái cho chúa Nguyễn Phúc Dương, vẫn thẳng tay diệt chúa Nguyễn, ném cả mồ mả của tổ tiên nhà Nguyễn xuống sông Hương.
Về sau, năm 1800, khi Nguyễn Gia Long thắng, thì:
“Quan quân nhà Nguyễn chú ý nhất là những mồ mả ở trong vùng đất Tây Sơn... Trên bờ sông Côn. Xương cốt đều ném xuống sông!” www.ongvove.wordpress.com/

CHP:
Nghe nói là mộ của Ngọc Hân Công Chúa cũng bị triều Nguyễn ném xuống sông?

NHN:
Phần “Biệt lục” của tộc phả Nguyễn Đính có ghi thêm, đại khái như sau: “Bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, vợ vua Lê Hiển Tông, thân mẫu của Công chúa Ngọc Hân, thương con gái và các cháu ngoại đều chết yểu nơi xa. Nên vào năm 1804, bà thuê người vào Phú Xuân lấy hài cốt của ba mẹ con rồi cải táng vào giờ Ngọ, ngày mồng Chín, 16-07-1804, tại bãi cây Đại hay bãi Đầu voi ở làng Nành, Ninh Hiệp.”
Năm 1842, dinh Thiết Lâm ở làng Nành, xã Phù Lưu, nay là Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội, “bị phá, nền dinh bỏ hoang thành đất công của làng, nhưng dân vẫn gọi là “Vườn Dinh” và dựng lên đấy một “Miếu cô hồn” kín đáo thờ Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Mộ thật của bà, vì có kẻ tố cáo, nên vua Thiệu Trị “sai hủy đền thờ, đào bỏ hài cốt kẻ ngụy”.

CHP:
Công chúa, Hoàng hậu rồi Hoàng thái hậu Lê Ngọc Hân mà cuối cùng lúc mất đi, lại trở thành... kẻ ngụy! Ngoài dòng lịch sử, chắc anh dựng chuyện về bà Ngọc Hân qua các chặng đời kể trên?

NHN:
Vâng, xin nhắc lại, Ngọc Hân Công Chúa sinh năm 1770, mất năm 179 9, hưởng dương 29 tuổi, với hai tác phẩm văn Nôm: Ai Tư Vãn và Văn tế Khóc chồng... Cuộc đời oan khuất với nhiều ngộ nhận. Thí dụ:
1/ Khi bà bằng lòng lấy tướng “giặc lông đỏ”, là Nguyễn Huệ, lại muốn đưa anh ruột là Sùng nhượng công Lê Duy Cận, (em trai Thái tử Lê Duy Vỹ) lên nối ngôi, sau khi vua Lê Hiển Tông mất; nên trong triều đình, đã có người lớn tiếng:
“Tự tôn (Lê Chiêu Thống, con trai Thái tử Lê Duy Vỹ) không được làm vua, thiên hạ ắt loạn. Họ Lê sẽ mất, ấy là lỗi tại Công chúa Ngọc Hân. Công chúa thực đã làm hại đến việc lớn của xã tắc, hãy xóa tên trong sổ họ đi, để cho công chúa về nước Tây Sơn mà yên hưởng giàu sang, họ ta chẳng thiếu gì một con người ấy!”
2/ Gia Long Nguyễn Ánh, sau khi chiến thắng Tây Sơn, đã thu “chiến lợi phẩm” Lê Ngọc Bình (vợ của vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quảng Toản), làm Đệ tam cung, gọi là Lê Đức Phi. Lê Ngọc Bình (em gái của Lê Ngọc Hân) sinh ra hai người con, thứ mười và thứ mười một, năm Gia Long thứ 16, 1781, được phong là Quảng Oai Công và Thường Tín Công. Lê Ngọc Bình còn sinh cho vua Gia Long một con gái, là Công chúa An Nghĩa. Nên dân gian mới truyền miệng câu ca dao, mà nhiều người hiểu lầm là Hoàng hậu Lê Ngọc Hân:
“Gái đâu có gái lạ đời,
Con vua, lại lấy hai người chồng vua.”

CHP:
Tôi nghĩ tới vở kịch “Ngộ Nhận” (Le Malentendu), của nhà văn Pháp Albert Camus. Lịch sử theo anh có phải là một vở kịch lớn, đầy rẫy những hiểu lầm?

NHN:
Câu hỏi khó quá, tôi không thể trả lời rốt ráo được. Trong lúc cố gắng tìm hiểu lịch sử nước ta, tôi thấy có nhiều “án oan”, thí dụ: Trường hợp vua Lê Long Đĩnh.
Lê Long Đĩnh ở ngôi có hơn hai năm, niên hiệu là Cảnh Thụy, 1007-1009, mất năm Kỷ Dậu, 1009, mới hai mươi bốn tuổi; nếu ngọa triều, chỉ nằm, không ngồi được vì bệnh hoang dâm, sao tới sáu lần đích thân làm tướng, cầm quân đi đánh giặc xa, gần hết sức gian khổ?
Lê Long Đĩnh, vị vua đầu tiên ở nước ta đã cho người sang Tàu, thỉnh kinh Đại tạng Phật giáo; trọng vọng các Thiền sư Vạn Hạnh, Khuông Việt, cũng như các cao tăng khác. Người như thế mà mang tiếng ác.
Năm Đinh Mùi, 1007, vua Lê Long Đĩnh còn “sai Minh Xưởng và Chưởng thư ký, là Hoàng Thành Nhã, đem con tê trắng sang biếu nhà Tống, dâng biểu xin Cửu Kinh và kinh sách Đại Tạng. Nhà Tống ưng thuận cho cả”. Cửu Kinh gồm kinh Dịch, kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ, kinh Xuân Thu, kinh Hiếu, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Chu Lễ”; chín pho sách báu, mà sau đó nước ta dùng từ đời này sang đời kia; người như thế mà thiên hạ nghe theo lời cánh Lê Trung Tông, (anh của Lê Long Đĩnh), giành ngôi với em, phao tin, đồn nhảm... là “ngọa triều, yếu tới độ không ngồi được, khi thiết triều phải nằm, róc mía lên đầu sư sãi cho bắn máu tươi, bắt họ phải ăn mặn trước mặt mình”...

CHP:
Bịa chuyện hành hạ các nhà sư để kích động quần chúng, phải chăng là Chiến tranh Tâm lý Tôn giáo?

NHN:
Gia Long Nguyễn Phúc Ánh cũng khai thác tận cùng việc Tây Sơn Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản: “Giết đạo Tây Dương, bắt các nhà sư đạo Phật đi lính, gieo thù, chuốc oán với dân thì sớm muộn cũng thua.”, “Cảnh Thịnh điên cuồng chống đạo, diệt đạo, lẫn lộn, cho đạo Tây Dương là giặc. “ Vì Tây Sơn thẳng tay bắt bớ, đánh đập, chém giết… Dân theo đạo, không chịu bỏ đạo, đành bỏ nhà, trốn vào rừng…
Mặc dù: “Bà dì của Ba Vua, tức ba anh em Tây Sơn, theo đạo Tây Dương, và thời Tây Sơn Nguyễn Nhạc chưa một nhà tu người nước ngoài nào bị bức hại. “
Việc tàn sát các làng đạo tại Bố Chính, Nghệ An, Thanh Hoa ngoài Bắc, đến độ người theo đạo “bị tẩm dầu vào mười đầu ngón tay hoặc đổ dầu vào rốn, châm lửa đốt; dân đi đạo thường bị treo ngược đầu nếu không chịu đạp chân lên tượng Chúa của họ, mà kẻ tra khảo bảo rằng đó là hình vua Tây Dương.”

CHP:
Thời này cũng chống các đạo nhưng tinh vi?

NHN:
Một hình ảnh đan cử thời “chống đạo”: Những người không chịu chối đạo, chạy trốn, nếu bị bắt, phải lãnh cực hình; chưa kể đến chân xiềng, tay còng, cổ đóng gông, mang đi bêu riếu khắp phố cùng với ảnh tượng và các đồ thờ đạo. Lính đi bên cạnh, luôn tay vung roi đánh đập. Nhiều người nằm chết rũ trên các đường đi. Thường thì họ bị trói giật cánh khuỷu, bẻ quặt hai tay ra sau lưng, liền một ngày nhịn ăn uống. Hoặc bắt đạp chân lên ảnh tượng và nói lớn, đạo Tây là đạo tặc...
Thật ra, việc cấm đạo đã xảy ra ngay lúc đương thời vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, vì nhiều vị cố đạo đã có mặt trong đoàn quân của Nguyễn Ánh. Vua Thái Đức từng khen ngợi “các họ đạo sống hiền. Cấp cả thẻ bài cho những người đi giảng đạo. Chỉ vài năm sau, chính vua Thái Đức lại cho rằng: Người theo đạo không tôn trọng lệnh vua, cũng chẳng tôn kính thần làng.”
Chiến tranh Tôn giáo, giữa Ta và Tây, từ đó mà ra.

CHP:
Có sự quá khích về phía ngoại nhân không?

NHN:
Ở nước ta thời ấy, hẳn có một số người Tây Dương đã đi quá trớn, ngoài việc giảng đạo là tốt; họ làm cho nhiều người theo đạo “nghĩ sai nhất rằng con đường của mình đi là đúng nhất”; họ khơi dậy lòng căm thù của dân đối với triều đình và bài bác cả những niềm tin tưởng trong lòng dân tộc đã sống hàng nghìn năm?
Nghìn năm người mình nô lệ Tàu, nhưng cũng là nghìn năm âm thầm tìm mọi cách để tách ra khỏi Tàu; từ cách đọc chữ Hán cho đến nghĩ ra chữ Nôm; nhuộm răng đen, ăn trầu, mặc váy, áo tứ thân, nón thúng quai thao, ca dao... Nhất là giữ đạo Thờ cúng Tổ Tiên! Chỉ có Tư tưởng Cộng sinh mới là Bản sắc Dân tộc Việt.

CHP:
Bản sắc Dân tộc mình theo Hoa Đào Năm Ngoái là Đạo Làm Người, Kính Trời, Thương Người và Yêu Đất. Anh muốn nói “Đạo” ấy là “Tôn Giáo”, tín ngưỡng, hay “Con Đường” để hòa hợp Thiên, Nhân, Địa?

NHN:
Thưa anh, chữ và nghĩa nước mình mênh mông, sâu sắc lằm. Có ở đâu mà lại: “Chữ Trung anh để thờ cha. Chữ Hiếu thờ mẹ, chữ Hòa thờ em.”?, ca dao, đó là đạo làm con, rồi còn đạo thầy trò, đạo vợ chồng ... nữa. Đạo, vâng, là con đường. Song, thờ, đâu phải chỉ là một hướng đi như việc bà Ngọc Hân “thờ chồng, nuôi con”.

CHP:
Theo nhà văn Từ Trì, Paris: „Thơ mộng như “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng, chính xác như “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim, nghiêm chỉnh như “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Gia Văn Phái, tác phẩm Hoa Đào Năm Ngoái của Nguyễn Hữu Nhật là chuyện tình tuyệt đẹp giữa một nàng công chúa Bắc Hà và một vị anh hùng gốc nông dân Đàng Trong trở thành một vị Hoàng Đế anh minh.“

NHN:
Tôi may mắn nhận được sự khích lệ kể trên. Cũng như sự khích lệ của nhà văn Trần Thị Diệu Tâm:
“Tác phẩm là một công trình nghiên cứu sâu rộng về lịch sử, chứa đựng nhiều tư tưởng và sự sáng tạo phong phú của nhà văn Nguyễn Hữu Nhật. Đó là một tác phẩm có giá trị văn học và giá trị lịch sử xứng đáng được trân trọng.“
Cuốn sau, “Trong Cõi Người Ta“, tôi viết về truyện đời thi hào Nguyễn Du, chắc sẽ dễ hơn Hoa Đào Năm Ngoái, vì có nhiều sử liệu.

CHP:
Thưa Anh trong quá trình hình thành cuốn tiểu thuyết: HOA ĐÀO NĂM NGOÁI (hay còn gọi là Ngọc Hân Công Chúa)Anh đã tìm những sử liệu, tư liệu từ đâu?

NHN:....

CHP:
Thưa Anh những sử liệu hiếm quý như vậy, ở các Quốc Gia phương tây, tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải thành lập, một thư viện, kêu gọi mọi đóng góp tư liệu, sữ liệu, để khi cần sử dụng sẽ có nhửng phương tiện sẵn có thì tốt anh nghĩ sao?

NHN:,,,

CHP:
Chúng ta có thể nói chuyện tiếp về phần văn chưong của tiểu thuyết Hoa Đào Năm Ngoái?

NHN:
Cảm ơn anh, xin để cho dịp khác; tôi mong ước nhiều Quý bạn đọc sẽ đi vào tâm cảnh của Hoa Đào Năm Ngoái để cảm thương cùng Ngọc Hân Công Chúa.
Quý bạn đọc sẽ thấy vua Quang Trung vui mừng:
“Tôi xin kính lạy dưới bệ hoàng thượng vạn tuế! Ở nơi khe núi hẻo lánh xa xôi tới đây, há dám đường đột như vậy? Bây giờ may sao được bám vào cành vàng lá ngọc, thật là một mối duyên kỳ ngộ ngàn năm mới có. Kẻ ở khe núi này xiết bao mừng rỡ.”
Và tìm câu trả lời, cho câu hỏi của vua Quang Trung:
“Vì dẹp loạn mà ra (Bắc), để rồi lấy vợ mà về; bọn trẻ nó cười cho thì sao. Tuy nhiên, ta mới chỉ quen gái Nam Hà, chưa biết con gái Bắc Hà, nay cũng nên thử một chuyến xem có tốt không?“ Có tốt không, là tính tình có tốt không, hay là theo nghĩa nào khác?

CHP:
Cảm ơn anh về buổi nói chuyện hôm nay.

NHN:
Xin gửi tặng tới Quý Bạn Đọc và anh bài tứ tuyệt của vua Hồ Quý Ly trong Hoa Đào Năm Ngoái:
“Dục vấn An Nam sự,
An Nam phong tục thuần.
Y quan Đường chế độ,
Lễ nhạc Hán quân thần.“
Và tôi cũng đã tạm chuyển sang tiếng Nôm:
“Người hỏi về nước Nam ư?
Y quan, lễ nhạc cũng như Hán, Đường!“
Văn minh Việt tộc không thua gì Hán tộc.

Cù Hòa Phong
Houston-Texas
14 Tháng 02 năm 2010



 
Gửi góp ý
Tiêu đề
Nội dung

Những tin mới hơn

  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 1
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 1

    Tuyển Tập 9  

    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 16
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 16

    Thơ Doãn Quốc Vinh Doãn Quốc Vinh hâu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ, cố Vấn VĐĐT. Những tập thơ DQV sáng tác đã được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang, tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 3 tập thơ : Lục Bát Tùy Bút , Lục Bát Đôi Bờ và Thơ Tình của  Doãn Quốc Vinh

    (05/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 15
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 15

    Title: Em Sài Gòn Artist: Quang Minh Composer: Minh Tuấn Harmonist: Quang Đạt Lyricist: N&L: Nguyên Phan Minh Tuấn

     

    (05/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 7
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 7

    Một Thời Để Nhớ
    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 6
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 6

    Chiều Cali đọc thơ Quỳnh Giao - Lê Bình –

    Lòng mang những niềm riêng trong cái chung của quê hương. Dù ra đi xa vạn dặm, tình quê mãi mãi mang theo. Nỗi niềm riêng hay tiếng thở dài? Quỳnh Giao ghi lại: "Cây có cội nước có nguồn," Từ đi mang cả nỗi buồn tái tê Dù cho lạc dấu chân về Cũng không quên được tình quê trong đời" Bà Huyện Thanh Quan nhớ nhà khi chiều về: "Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Gác mái ngư ông về viễn phố Gõ sừng mục tử lại cô thôn Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Kẻ chốn chương đài người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn"

    (04/12/2011)

Những tin cũ hơn

  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 6
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 6

    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14  - Phần 6

    Text Box:      Trang   Vườn   Thơ

    một chữ Mẹ sao thân thương quá đỗi nhẫm trong tim nghe đầy ắp ngọt ngào đọc chữ Mẹ chợt thấy lòng rung động lòng Mẹ hiền như những khúc ca dao tiếng gọi Mẹ, bỗng oà trong mừng rỡ chữ đầu tiên bập bẹ lối vào đời từ cuống rốn con hành đau bụng Mẹ tháng năm dài câu hát Mẹ à ơi

    (09/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 5
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 5
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14  - Phần 5

    Trang Âm Nhạc

    Sonny Phan, còn có bút hiệu là Song Anh tên thật Phan Thanh Sơn, cựu học sinh trường Trung học Phan Châu Trinh Đà nẵng. Yêu thích văn nghệ & báo chí từ thuở bé. Viết tình ca, viết văn và làm thơ là niềm vui. Đã sáng tác và tự thực hiện, phát hành nhiều dĩa CD Nhạc chủ đề, và có đăng trên trang nhà www.sonnyphanmusic.com.

    Thành viên Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT), The Music Club (TMC), Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ (CLB-TNS).

     

    (09/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 4
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 4

    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 4

    Trường Hà là bút hiệu của Kỹ Sư Vũ Duy Toại, du học tại Đức từ 1972. Theo học về kỹ sư điện toán, y khoa tin học, kinh tế và luật học. Làm việc tại các viện Đại Học Dortmund, Bochum. Thông dịch viên hữu thệ tòa án Đức từ 1987. Hội viên hội Hồng Thập Tự và hoạt động về thiện nguyện và nhân quyền giúp đồng bào tỵ nạn tại Đức từ 1978. Hội viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại/ Trung Tâm Âu Châu từ năm 1987/ 1988. Từng cộng tác với báo chí Saigon và Hải Ngoại. Chủ trương cơ sở Văn-Khoa Việt Nam từ 1989 với Hội Văn Hóa và Khoa Học Việt nam. Cộng tác với hệ thống truyền thông Việt Nam Hải ngoại từ 2005. Thành viên Văn Đàn Đồng Tâm từ lúc mới thành lập.

     

     

    (09/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 3
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 3

    Tuyển Tập 14 - phần 3

    Anges du Ciel, Anges de Dieu, Anges de Paix et de Gaîté, Apportez-moi une couronne. Je veux me baigner dans l'Océan de Lumière et d'Amour divin

    Hỡi Thiên thần của Trời/ Hỡi Thiên thần của Thượng Đế/ Hỡi Thiên thần của Hòa bình và Niềm Vui/ Xin đem đến cho tôi một vòng hoa/ Tôi muốn tắm trong Đại dương Ánh sáng và Tình yêu thần thánh

    (08/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 2
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14 - Phần 2

    Tuyển Tập 14

    Doãn Quốc Sỹ - Bút hiệu cũng là tên thật. Nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ, sinh ngày 3.2.1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Nội. Khởi sự cầm bút từ thời sinh viên ở Hà Nội; giữa thập niên một 50, ông trong những cột trụ trong Tạp Chí Sáng Tạo với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, hoạ sĩ Ngọc Dũng, Duy Thanh. và cũng cộng tác với nhiều tạp chí xuất bản ở Sài Gòn trước năm 1975.

    (08/12/2011)
Tin tức
  • Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT
    Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT

    CHƯƠNG TRÌNH GIỚI THIỆU

    TUYỂN TẬP ĐỒNG TÂM SỐ 12 & WEB SITE

    www.VanDan-DongTam.org TẠI HOUSTON TEXAS VÀO NGÀY 15 THÁNG 05 NĂM 2011

    Từ mấy tuần trước ngày Giới Thiệu Sách (GTS), tôi đã nhận được thông báo qua email, và qua diễn đàn của Văn Đàn Đồng Tâm rằng: vào ngày 15- 5- 2011, Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT) sẽ có buổi giới thiệu Tuyển Tập Đồng Tâm số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, và chính thức ra mắt web site vandan-dongtam.org, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi 8282 đường Bellaire, khu Southwest Houston. 

     

    (29/05/2011)
  • Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
    Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
      Doãn Quốc Vinh Dùng Nghệ Thuật Để ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’

     

    Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ - cố Vấn VĐĐT, đã sáng tác và thực hiện những tập thơ  được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang,  tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 4 tập thơ :  Lục Bát Tùy Bút ,  Lục Bát Đôi Bờ, Lục Bát Ru Hời  và  Lục Bát Tình của Doãn Quốc Vinh DOÃN QUỐC VINH với đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim, California.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) xin hân hạnh giới thiệu và thân mời quý văn thi hữu và đồng hương tham gia ủng hộ thật đông đảo.

     

     

    * * * * *

    Từ “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” Gần đây, tôi được dịp đọc lại “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trên trang SángTạo.org. Đọc công khai, đọc bao nhiêu lần tùy thích. Càng đọc, càng thích. Càng đọc, càng u ẩn niềm quê. Càng đọc, càng muốn khóc cho cái điêu linh của quê hương, dân tộc, cho cái nhục nhằn của sinh linh. Càng đọc, càng muốn đi tìm tác giả, để cám ơn ông đã cho tôi được sống với đất nước trong một giai đoạn trước khi tôi chào đời. Càng đọc, càng nhớ lại cái lần đầu tiên gặp Doãn Quốc Sỹ trong cái tủ kính khóa chặt của ông Ngoại tôi ở một vùng quê miền Tây Nam đất Việt. Tôi đọc lén. Lén cái chính quyền sau 1975. Lén cả ông Ngoại tôi, vì sách quý, con nít biết gì mà động vào. Tuy sau này tôi mới biết, ông tôi không hề cấm con cháu đọc sách của ông, dù ông quý sách hơn cả vàng (nên tôi oai hùng mượn ông quyển “Ba Sinh Hương Lửa” và vác về nhà đọc một cách hết sức chính quy). “Ngàn vàng dễ kiếm, lời tốt khó tìm.” Quý là đúng. Và quý nhất là cái thông điệp mà nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã trân trọng gửi gắm cho độc giả ở cuối truyện. Với cái ngôn ngữ giản dị và một tâm hồn thuần Nho, ông nói lên một sự thật và một thực tế mấu chốt của thời đại chúng ta. “Ở thế giới thực dân tư bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” “Tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” Tình thương yêu ấy, nó có mùi vị gì, màu sắc ra sao, kích cỡ thế nào, hình dáng làm sao? Theo tôi, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã xuất sắc trong việc tề gia, để câu trả lời nằm chính ngay trong huyết mạch lưu truyền của ông. Đến “Niêu Cơm Quê Nhà” Con nhà tông, nên chắc chắn phải giống lông giống cánh. Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, đã được bú mớm cái dòng sữa của mẹ và cái dòng tư tưởng của cha từ trong nôi. Doãn Quốc Vinh được biết đến nhiều như một họa sỹ, qua các cuộc triển lãm “Ao Nhà Lung Linh” hay “Chuyện Trò Với Lá,” vừa xuất thần trong bản sắc dân tộc, vừa bật tung những sáng tạo hiện đại. Nhưng Doãn Quốc Vinh cũng dính líu với chữ nghĩa, có lẽ vì cái duyên nghiệp viết lách còn quá nồng nàn giữa hai thế hệ của Doãn gia. Tôi đặc biệt quan tâm đến “Niêu Cơm Quê Nhà,” một bài thơ Doãn Quốc Vinh viết tặng cho người thân ở xa, khi anh còn ở tại Sài Gòn, vào năm 2005.

    Bài thơ dung dị và dân dã như cái niêu cơm, như ý niệm quê nhà, như mối tình thôn quê thuần nông nghiệp. Bài thơ được ‘nấu’ như thế này: “…lạy trời , lạy đất , lạy mây lạy cho lúa chín trĩu đầy hạt thơm lạy cho xó bếp nhiều rơm để tôi thổi chín niêu cơm quê nhà mời anh , mời chị ở xa ghé chơi … xơi chén cơm cà với tôi bát canh bông bí ngọt chồi vại dưa , khoanh cá, khúc dồi … chân quê dăm năm thu vén bộn bề này anh, này chị đường về nhớ chăng?” Doãn Quốc Vinh đã thể hiện “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” một cách thật cụ thể trong bài thơ này. Anh cầu khẩn cho có được những điều kiện cần thiết để nấu một bữa cơm nhà quê, để mời những anh những chị đang sống xa quê, vài năm “thu vén bộn bề” một lần, về lại. Anh mong họ được hưởng lại cái không gian quê nhà ngay trên đầu lưỡi. Không dưng anh làm cho tôi thèm mùi khói rơm quá! Nhưng cái sự chuyên cẩn trong từng cái lạy, cái chọn món, cái ‘thổi’ cơm (rất dân dã, và hầu như chỉ còn ở thôn quê Việt Nam vì sự bành trướng của bếp ga, bếp điện) – tất cả bày ra một mâm cỗ của yêu thương, thông cảm, chia sớt. Người-ở-lại Doãn Quốc Vinh đã “chân thành” và cũng rất “rộng rãi” với tâm sức của mình khi đi ngược dòng thời gian, thổi một “niêu cơm quê nhà” để làm ấm lòng người đi xa. Cho đến khi chính anh cũng là người đang đi xa, thì anh lại tiếp tục ‘thổi’ cơm để gửi về cho những đồng bào ở lại, nhất là những đồng bào nghèo khó. Dùng hội họa để “Cho Em Niềm Hy Vọng 9” Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ cơm cho những người nghèo khổ trên quê hương bằng cách nào? Anh không lạy trời lạy mây nữa. Anh vẽ. Anh đã chọn những bức tranh ưng ý của mình để bán gây quỹ cho SAP-VN tại đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim. Nếu tình người bàng bạc trong văn chương chữ nghĩa của cha con họ Doãn, thì tình người là một nếp sống hằng ngày trong gia đình này. Doãn gia đã cưu mang bao người cơ bần, ngay giữa lúc họ Doãn cũng phải đối diện với khó khăn thời chiến. Họ Doãn đã dùng cái “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” để sống và làm chủ đạo cho dòng tộc mình. Cho nên việc họa sĩ Doãn Quốc Vinh đưa cái “tình thương yêu rộng rãi” ấy đến góp tay với SAP-VN để phục vụ đồng bào trong cảnh khốn cùng, âu chỉ là một việc tất yếu. SAP-VN, với tất cả những thành quả trong hoạt động từ thiện gần hai thập niên qua, đã đón nhận sự giúp đỡ hết mình của biết bao nhân tài và mạnh thường quân. Nhưng sự giúp đỡ của Doãn Quốc Vinh lần này làm cho tôi xúc động theo lũy thừa đôi, có lẽ vì anh diễn đạt cái ‘tình quê’ một cách tự nhiên và sâu sắc, nhất là qua những bài thơ và phát biểu của anh. Trong thời gian chuẩn bị cho ngày gây quỹ, thân mẫu của anh, bà Doãn Quốc Sỹ, nhũ danh Hoàng Thị Thảo, đã hấp hối và qua đời đầu tháng Chín tại Houston, Texas. Có lẽ bà là một trong những người đàn bà hạnh phúc nhất, vì đã có một người phối ngẫu giàu lòng nhân ái như vị văn tài Doãn Quốc Sỹ, đã cùng bà nuôi nấng những người con có tấm lòng tha thiết với quê hương và với đồng bào như Doãn Quốc Vinh. Kính mời quý đồng hương cùng đến, thưởng lãm những “niêu cơm quê nhà” mà Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ bằng óc sáng tạo và nét cọ tài ba, để cùng SAP-VN thắp sáng tình quê trên những vùng nhân sinh nghèo khổ của quê hương. Nếu không có quý vị, “niêu cơm quê nhà” của Doãn Quốc Vinh sẽ không “chín” nổi vì thiếu lửa. Quý đồng hương có thể mua vé trước tại Nhà Sách Tự Lực (714 531 5290, 714 531 5290), hoặc Tiệm Kính Optometry (714 418 0190, 714 418 0190), hay qua email tại (sapvntix@gmail.com). Nếu có thắc mắc về chương trình gây quỹ, xin quý vị gọi số điện thoại 714-901-1997, 714-901-1997. Xin hẹn cùng ‘ăn cơm quê nhà’ với quý vị lúc 4:30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011 tại Nhà hàng Mon Amour (Mon Cheri 2 cũ), tọa lạc tại 3150 W. Lincoln Ave, #134, Anaheim, CA 92801.

     

    Trangđài Glassey-Trầnguyễn

     

     

     

    (10/10/2011)
  • Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng
    Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng

     

                               

     

    Thư Mời

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) trân trọng kính mời quý văn nghệ sĩ và đồng hương thân hữu, vui lòng dành chút thời gian đến tham dự buổi liên hoan văn nghệ giới thiệu tuyển tập VDDT số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi, địa chỉ 8282 Bellaire Blvd. Houston TX 77072, vào chiều Chúa nhật, ngày 15 tháng 05 năm 2011, từ 4PM đến 9PM.

     

    Chương trình gồm nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, hấp dẫn do nhiều nghệ sĩ tham gia trình diễn (Hoàng Kim Khánh, Sonny Phan, Lệ Ngọc, Nguyệt Khánh, J. Ngọc, Nhật Hạnh, Phan Thanh, v.v…)

     

    Vào Cửa Tự Do. Phục vụ Ẩm Thực Miễn Phí.

    Tặng Quà Lưu Niệm. Dạ Vũ Vui Nhộn.

     

    Sự hiện diện của quý vị là một vinh dự và niềm khích lệ lớn lao đối với VDDT.

    Trân trọng kính mời

     

    Thay mặt Ban Tổ Chức

     

    Cù Hoà Phong

    281-975-9782

     

    P.S. Vì chỗ ngồi có giới hạn, xin quý vị vui lòng sớm ghi danh tham dự qua email vandandongtam@gmail.com hay điện thoại cho Tạ Xuân Thạc (281-370-0233), Cù Hoà Phong (281-975-9782) để nhận vé mời.

    Xin chân thành cám ơn.

     

     

                            

     

     

     

     

     

     

    (12/05/2011)
Quảng cáo
Nhan Hien
Tofu
TRỢ CẤP TÀN TẬT – SSI
PharmTrustPharmacy
KS Bellaire
nicolasdetal
Nguyen Quoc Dung
drmainguyen
Northside Domestic & Import
Nguyen Phi Loi
Mark D.Le M.D.,P.A