Chuyên mục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 1
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 2
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 3
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 10
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 12
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 16
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Phần 21
Phần 22
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 17
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 18
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 19
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Sách kỷ niệm
Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Kỷ Niệm Về Nhạc Sĩ Anh Bằng
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Phần 1
Phần 2
Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Văn học
Văn
Thơ
Nghệ thuật
3 videos clips của buổi TalkShow trên đài truyền hình BYN
Âm nhạc
Âm nhạc
Archive
Music Online

There seems to be an error with the player !

Hình ảnh
Video Clip
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 8
Thứ ba, 27 Tháng 12 2011 08:34
Mục Lục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 8
THÔNG BÁO LỊCH TRÌNH NHẬN BÀI CHO TUYỂN TẬP ĐỒNG TÂM VÀO MỖI TAM CÁ NGUYỆT
CHÚC MỪNG
PHÂN ƯU
Tất cả các trang

 


NGƯỜI NỮ TU HUYỀN CHỨC
J.NGỌC

Người Nữ Tu Huyền Chức ra đời sau khi J.Ngọc xuất bản trường thiên Cõi Phúc Và Giây Oan toàn bộ và được rất nhiều độc giả thư tín cùng điện thoại, trong đó có cả các vị linh-mục đã góp ý và thông cảm trong chiều hướng đón nhận thành khẩn với J.Ngọc khiến J.Ngọc cảm hứng đã tiếp tục viết... và Người Nữ Tu Huyền Chức ra đời.
Thực ra, với J.Ngọc, Người Nữ Tu Huyền Chức còn là một ấp ủ từ lâu, nhất là với J.Ngọc, các nữ-tu luôn sẵn sàng hy sinh để hiến mình cho Chúa và phục vụ tha nhân thật sự rất đáng được tôn kính. J.Ngọc muốn dùng ngòi bút để phần nào nói lên những hy sinh và trăn trở của một người phụ nữ đã tự nguyện hy sinh tất cả đời mình, nhất là trước những âm thầm, những chịu đựng và biết bao nhiêu xa ngã lúc nào cũng rình rập như những con sâu trong huyết quản.. Nhưng những người Nữ-tu đã làm gì để có thể tránh được những cạm bẫy ung nhọt bất trị của thế gian...
Xin qúy độc giả đón đọc Người Nữ Tu Huyền Chức để phần nào thông cảm chức năng của một nữ-tu trước và sau.. huyền chức....

Lời Tâm Lộ Của Tác Giả
J. Ngọc, với tâm ý luôn muốn cùng độc giả chia sẻ những cảm xúc từ những chất chứa buồn vui lẫn lộn của cuộc sống, mà ở đó, sự định giá tùy theo nhân sinh quan của từng độc giả.
Trong ý nghĩ đó, tác phẩm Người Nữ Tu Huyền Chức, chỉ là một cuốn tiểu thuyết đúng nghĩa, J. Ngọc đã dùng tâm huyết trang trải theo thiển ý riêng mình, trong hồi sinh quá khứ, một quá khứ với nhiều chất lũy đau thương của những mảnh đời trôi dạt, truân chuyên, gò bó, trong từng tấc luân lý cổ truyền, đôi khi áp đặt, nhưng phải cam chịu, của một đời người chỉ biết sống tùng phục nơi xóm làng, qua từng thời, từng đời, diễn tiến.
J. Ngọc nhớ một lần trong chuyến công tác Singapore, trên cùng chuyến bay, một người bạn Mỹ, vì thấy J. Ngọc liên tục viết bài, đã hỏi J. Ngọc, lý do gì tác động khiến J. Ngọc viết văn. J. Ngọc đã thành thật trả lời: “Có lẽ vì J. Ngọc muốn được chia xẻ cùng độc giả những thầm nghĩ riêng mình, để tìm cho đời sống một nhân hậu đứng đắn.”
Quả thật, đời sống con người quá nhiều khúc mắc, nhất là cuộc hành trình khó khăn mà những người chúng ta đang cùng cam cảnh. Vật chất đã hiên ngang lũng đoạn, để rồi đời sống tinh thần như dần bị quên lãng. Do đó, những người vì tha nhân, hy sinh, lăn xả cho xã hội trong tinh thần thiện nguyện đích thật, dễ bị bôi bác và mất đi sự mầu nhiệm và giá trị cao qúy, để vô tình bù vào bằng những trắc trở vô tâm, của chính những người cùng giống.
J. Ngọc xin đa tạ sự thông cảm, và cám ơn quý độc giả trong lời qúy mến và thân thương, đã chia xẻ hầu J. Ngọc có cơ hội trải lòng mình trong những tác phẩm đã qua, cùng một tâm ý nhớ về dĩ vãng thân thương, nhưng mãi còn trong từng người, từng nơi và từng thời gian, để từ đó rút ra những kinh nghiệm cần thiết, cho cuộc sống đang cần hồi sinh lòng thiện, không chỉ bây giờ mà mãi mãi

J. Ngọc 01/2000

CHƯƠNG MỘT

Không một tiếng động, ngoài trời những hạt mưa như ngừng đổ. Lòng Thanh tan tác, một buồn đau khôn tưởng kéo về. Thanh có còn bé quá để không thể định cho mình một hướng đi, hay vì cả đời đã sống hoàn toàn lệ thuộc vào những dư hưởng của xứ đạo, tất cả đã định sẵn, nề nếp, và không đối chất? Cũng như ngay lúc này, Thanh biết sự vô lý của bố, nhưng Thanh vẫn không thể cãi, dù nửa lời để biện minh cho lẽ phải, một lẽ phải tầm thường nhất.
Ông Tam vẫn gầm gừ giận dữ nhìn Thanh vừa bưng ly rượu lên miệng uống ực một hơi. Ông Tam hà hơi men, tiếng kêu sảng khoái pha lẫn mùi nồng nặc từ men rượu như tạt vào mặt Thanh khiến Thanh càng hoang mang lo lắng. Rồi bỗng dưng ông Tam dằn mạnh chiếc ly sành mầu xanh cũ đã xứt một mảnh nhỏ trên miệng xuống mặt bàn, vừa hét lớn:
- Bà câm miệng bà lại, tôi đã bảo bà, bà rướng nó lắm bây giờ nó mới sinh ra như vậy.
Rồi ông Tam quay qua Thanh đang rũ rượi qùy giữa nhà cam chịu với những lọn tóc buông thả ướt sũng vì mồ hôi đầm đìa trên trán. Thanh cố kìm giữ để khỏi thoát ra tiếng bi ai buồn thương, nhưng rồi những tiếng nấc nghẹn ngào vẫn vỡ bờ, và Thanh mím môi cố nuốt để khỏi làm bố phiền lòng. Giữa lúc đó,
ông Tam nghiến răng:
- Tu với không tu. Đồ con gái đái khai nhà được tích sự gì. Bà Tam thấy thương con gái, nên rụt rè nói nhỏ:
- Con nó mới nói vậy thôi mà ông đã muốn ăn tươi nuốt sống nó rồi, ông đâu có đẻ nó ra đâu mà ông thương. Chỉ tội cho tôi thôi. Ông không bằng lòng cho nó đi thì thôi, ông không nhỏ nhẹ với nó một chút được sao?
Nhưng ông Tam càng quát lớn:
- Bà còn binh nó hở.
Rồi như điên, ông cầm chiếc ly liệng mạnh vào tường. Chiếc ly đụng vào chiếc cột nhà vỡ tung thành nhiều mảnh nhỏ bay tung toé trên sàn nhà và bắn cả lên mái tóc Thanh. Thanh run sợ, hai vai Thanh rũ xuống như một chịu đựng cùng tận. Bà Tam vội đứng dậy lấm lét nhìn chồng, vì đã ăn ở với chồng cả bao năm, bà hiểu tính ông Tam. Khi ông đã ngà say, thì trời ông cũng coi bằng vung. Nên bà vội kéo Thanh dậy, vì e ông nổi nóng, Thanh sẽ khó tránh khỏi những roi đòn nát da. Nhưng ông Tam thấy thế cũng đứng bổ dậy, vừa quát lớn:
- Bà ngồi im, bà mà đứng dậy là tôi chôn sống nó. Bà Tam lưỡng lự, miệng run run muốn khóc:
- Hôm nay ông uống hơi nhiều, thôi để khi khác dậy con. Vừa nghe thế, ông Tam không còn dằn được, ông tiến sát tới Thanh, dang tay và tát mạnh trên má Thanh, vừa dằn từng tiếng:

- Say! Ai bảo ông say! Ông say mà ông còn biết dậy dỗ con hả!

Và ông quay lại cầm luôn chai rượu tu ực năm sáu hơi liền, rồi dơ tay lấy vạt áo nhuộm mầu muối quệt ngang miệng, mặc Thanh đang chúi gập xuống nền nhà vì cái tát quá mạnh của ông Tam. Tuy thế Thanh vẫn không khóc. Không phải Thanh không đau, nhưng có lẽ Thanh đã tìm cho mình một định hướng rõ rệt. Sự chịu đựng với Thanh, dù hoàn cảnh nào cũng là ân phúc Chúa gửi đến, để cho Thanh có dịp lập công cầu cho những linh hồn và cho chính Thanh, để đền vì tội mình. Có lẽ sự nhận thức này, không phải tự nhiên mà có, mà Thanh đã chịu ảnh hưởng sâu rộng từ những huấn dậy, những vâng lời, những khó nghèo mà sơ Mỹ-Hằng đã nhập tâm Thanh. Thanh như một đứa trẻ thơ ngoan hiền và dễ mến. Nhưng quả thật, lúc này lòng Thanh không còn chứa một vẩn lo lắng cho mình, mà Thanh chỉ sợ, vì Thanh mà bà Tam lại bị ông Tam la rầy. Vì đây không phải là lần đầu, vì Thanh mà bà Tam đã phải cam chịu. Nên Thanh liếc mắt len lén nhìn bà Tam trong thương tâm. Bà Tam đang lấy vạt áo quệt nước mắt với dáng ngồi hoàn toàn vâng chịu. Bỗng bà cố gắng trong cùng tận, bà chống hai tay trên chiếc đùi gầy còm và mòn mỏi như khúc củi được bọc trong chiếc quần vải đen nhầu nát. Bà đứng dậy, tiến tới góc nhà. Bà cầm chiếc chổi, vừa cúi xuống định quyét những mảnh vỡ vụn tung toé trên sàn nhà, bà vừa nhỏ nhẹ:

- Ai bảo ông say đâu. Tôi chỉ nói ông uống hơi nhiều chút thôi mà ông đã đập phá rồi. Nhà có chiếc ly nào, là ông đập chiếc đó.
Và bà xụt xùi:
- Vả lại, nó cũng lớn rồi, chả lẽ ông không biết dậy bảo con nhẹ nhàng chút sao.
Rồi bà lưỡng lự, giọng nhỏ hơn:
- Ông nghĩ lại một chút coi, nó chỉ xin đi trọ học thôi mà. Nhưng ông Tam vẫn một mực:
- Học! Học cái gì. Nó là con gái đi học để viết thơ cho trai à. Tôi cho nó học hết lớp đệ-lục là khá lắm rồi. Bà thấy, ở cả làng này có mấy đứa con gái được đi học như nó?
Rồi ông lại với chai rượu dốc cạn, miệng chủn ra:
- Bà tưởng tôi không biết hả. Sơ Mỹ-Hằng đã đầu độc nó. Nó mà là con trai, bà không cần nói, dù nghèo, dù không đủ ăn, tôi cũng ráng nợ nần để cho nó đi tu. Nhưng nó là con gái, thì bà đừng có hòng nói với không nói cho nó đi tu.
Bà Tam ngắt lời ông Tam:
- Ông chỉ nói bậy mà không sợ tội trọng à. Sơ Mỹ-Hằng đầu độc nó hồi nào. Con ruột ông mà ông không biết tính nó thì còn ai biết. Nó đã chẳng có ý định đi tu ngay còn nhỏ sao?
Rồi bà như nhớ về dĩ vãng:
- Mà chẳng nói gì nó, xưa tôi cũng có khác đâu. Giá bà ngoại nó mà bằng lòng cho tôi đi tu, thì bây gìơ tôi đâu khổ thế này.
Ông Tam vừa nghe, cười khẩy:
- Mẹ nào con ấy. Mà xưa bà đi tu thì tôi mới không phải vác cái nợ.
Rồi ông lẩm bẩm:
- Nợ mẹ, rồi tới nợ con. Con trai đi tu còn nở mày nở mặt, chứ thứ con gái dù có làm bà mẹ bề-trên, thì cũng chẳng được nở mày nở mặt chút nào. Bà không thấy sao? Gặp các cha dù lớn dù nhỏ cũng phải lạy, phải bẩm. Còn các sơ có ai ngó ngàng gì tới.

Nói tới đây, ông nhìn mâm cơm còn đang ăn dở, quát bà Tam:

- Mà bà muốn lý luận với tôi hả. Khôn hồn vào lấy chai rượu khác ra đây.
Bà Tam nhìn ông chậm rãi:
- Rượu đâu còn. Tuần lễ này ông uống hai chai rồi ông biết không?
Ông Tam mắng nhẹ:
- Bà chỉ nói điêu, tôi uống hai chai hồi nào?
Bà Tam định trả lời. Nhưng không hiểu sao bà lại thôi. Bà nhìn Thanh vẫn qùy trước mặt, tự nhiên bà thương cho Thanh.
Thanh là đứa bé rất dễ thương, trong làng ai cũng thương Thanh vì tính tình Thanh rất hiền hậu và dễ mến. Thanh lại rất siêng năng. Mặc dầu còn bé, Thanh đã chưa bao giờ bỏ một buổi lễ thường. Hồi năm tuổi, Thanh đã xin bà đi lễ hàng ngày, và ngay sau đó, Thanh đã được nhập nghĩa-binh Thánh-thể. Từ đó, hàng ngày, lúc nào Thanh cũng đúng giờ, bốn rưỡi sáng Thanh đã được các toán-trưởng nghĩa-binh Thánh-thể đi từng nhà gọi dậy để đến nhà thờ, vì năm giờ sáng đã bắt đầu thánh- lễ. Thanh biết lắng nghe, và biết chịu đựng, dù bị la rầy không phải. Tuy nhiên, thực tâm ông Tam cũng rất là thương Thanh, nhưng không hiểu sao mỗi lần Thanh mở miệng xin đi tu, là ông đều nổi giận. Tuy thế, Thanh vẫn không sờn lòng. Thanh đã tâm sự với bà Tam, cuộc đời của Thanh chỉ muốn được dâng mình cho Chúa. Thanh còn luôn đưa những gương lành mà sơ Mỹ- Hằng đã kể cho Thanh, để kể cho bà Tam nghe. Dĩ nhiên bà Tam không cản con, nhưng bà cũng rất lo lắng, vì nhà hiếm hoi, chỉ có ba đứa con, mà Thanh lại là con trưởng, em Thanh là Thành mới mười tuổi, còn Thạnh thì chỉ mới lên tám.
Bà Tam từ bé cũng luôn ước ao trở thành người nữ-tu, dù lúc đó ba Tam chưa hiểu đi tu là gì. Trí óc bà mường tượng đó là một dịu dàng hiền thục chứ bà nào có được am hiểu như Thanh lúc này. Thanh qủa đã có một định hướng cho đời chứ không chỉ bồng bột như những đứa trẻ khác, đi tu chỉ để xa nhà và có cơ hội học hành. Bà Tam còn nhớ ngày Thanh rước lễ lần đầu, bà ôm Thanh vào lòng, vừa vỗ về Thanh vừa cảm động hỏi Thanh:
- Con muốn gì, mẹ cho con.
Nhưng bà ngạc nhiên khi Thanh nũng nịu trả lời ngay:
- Con xin mẹ cho con đi tu.
Bà Tam nhìn Thanh tưởng con nói đùa, nhưng không, mắt Thanh thật thành khẩn khiến bà Tam đã không ngần ngại bảo Thanh:
- Để mẹ xin với bố cho con đi tu.
Đấy là lần đầu tiên Thanh bày tỏ ý mình. Nhưng không ngờ, khi về nói lại với ông Tam, ông Tam đã không ngần ngại gạt ngay. Ông Tam bảo bà Tam:
- Bà thật là không hiểu rộng biết cao, bà cho nó đi tu rồi ai coi em cho bà. Vả lại, rồi những lúc bà đau ốm, ai nấu nướng, cơm nước cho tôi. Hơn nữa nó là con gái, đi tu thì được cái gì? Tối ngày cũng chỉ khúm núm trong bộ áo dòng. Đi đâu thì có ai thèm hỏi han gì không? Cỗ bàn lúc nào cũng phải ngồi dưới có khác gì các bà đâu. Tôi sẽ cho con tôi đi tu, nhưng phải là con trai, chứ con gái thì nhất định không. Và từ đó lúc nào ông Tam cũng cản Thanh. Bà Tam biết vậy nên cũng không dám bàn thêm. Mãi tới hôm nay, thật tội cho Thanh, bao nhiêu ngày mong đợi, nhưng bố vẫn không chuyển ý.
Bà Tam còn đang nhìn Thanh và thương thầm cho con gái mình, thì ông Tam lại quát lớn:
- Bảo bà đi lấy rượu thì đi lấy còn cãi gì nữa?
Bà Tam lúc này vì thương Thanh nên giọng bớt sợ hãi hơn:
- Ông để cho mẹ con tôi thở một chút chứ. Ai mà giấu gì ông, nhà đâu còn hột rượu nào.
Rồi bà khóc tấm tức vừa bảo ông Tam:
- Ông cho con nó đứng dậy, ông bắt nó qùy từ chiều tới giờ chưa được hột cơm vào bụng. Con nó có dám cãi gì ông đâu.
Ông Tam hình như cũng dịu đôi phần, nên ông không nặng lời nữa, mà chỉ bảo Thanh:
- Con hư tại mẹ. Không có tôi rồi nhà này ra mắm.
Nói đoạn ông ngồi xuống, lấy bát, xới cơm và vội mấy miếng, rồi đứng dậy mặc Thanh và bà Tam. Ông Thanh đóng cửa mạnh và rời nhà.
Lúc này bà Tam mới đến đỡ Thanh dậy, bà bảo Thanh:
- Con đứng dậy đi.
Thanh dạ nhỏ. Nhưng Thanh vừa duỗi chân định đứng dậy thì như bị sức nặng đè xuống nên ngã chúi vế phía trước. Bà Tam thấy thế lo lắng:

- Hồi chiều tới giờ chưa ăn gì phải không?
Thanh lại cố gắng. Lần này Thanh đứng dậy dễ dàng hơn. Thanh trả lời mẹ:
- Có lẽ tại con qùy lâu nên cuồng cẳng thôi.
Nhưng bà Thanh vẫn đỡ Thanh với sự yêu thương của một người mẹ.
Thanh vuốt lại mấy sợi tóc xỏa trên trán, đến bên bàn, kéo ghế mời mẹ ngồi, rồi mới ngồi bên mẹ. Thanh dù tuổi mới lớn, nhưng rất biết lẽ phải và luôn đắn đo khéo léo. Chính điều này đôi lúc khiến Thanh như gìa dặn trước tuổi.
Bà Tam lấy chén, xới cơm đưa cho Thanh, miệng ngọt ngào:

- Con ăn đi, cơm đã nguội hết rồi. Rồi bà thở ra, giọng cam chịu:
- Mà con cũng đừng trách bố con, ông ấy miệng ngoài thì cứng rắn, nhưng trong cũng thương con lắm. Để mẹ tìm cơ hội lúc bố con vui vẻ sẽ nói cho con.
Và như chợt nhớ ra điều gì, bà Tam nhìn Thanh soi mói, lúc sau mới lên tiếng:
- Nhưng đã lâu nay mẹ không thấy con còn nhắc tới xin đi tu nữa, sao hôn nay con còn đề cập tới?
Thanh đang và miếng cơm dở, nên chờ khi miếng cơm nuốt trôi, Thanh mới thưa cùng bà Tam:
- Thưa mẹ, thực ra ngay từ tấm bé, chưa lúc nào con rời bỏ ý định được dâng mình cho Chúa. Nhưng vì thấy bố không bằng lòng nên con tạm kìm giữ để chờ cơ hội thuận tiện. Và con tưởng hôm nay bố đang vui vì bố vừa được cha-xứ giao cho chức vụ trùm-khu, nên con đã mạnh dạn tỏ bầy, nhưng không ngờ con đã làm bố nóng giận. Lỗi cũng tại con.
Bà Tam nghe Thanh, nhìn Thanh, thấy Thanh rơm rớm nước mắt nên càng thương và tội nghìệp. Một lúc sau bà lại hỏi Thanh:
- Nhưng con ở nhà con cũng có thể dâng mình cho Chúa mà. Ở đâu con cũng có thể làm việc lành. Bà thánh Têrêsa đâu có làm công việc nào vĩ đại đâu? Bà chỉ làm tất cả công việc bình thường mà người đời không để ý tới, như nhặt rác, quyét nhà, lau chùi dọn dẹp. Nhưng bà lại trở nên một bà thánh vĩ đại và còn là quan thầy các hội truyền giáo. Con nghĩ sao?
Thanh nhìn mẹ và thưa nhỏ:
- Con biết, nhưng thánh-nữ đã làm việc khiêm nhường đó mà khó ai làm được, là thánh-nữ luôn làm vì danh Chúa, dù bất cứ ở đâu. Còn con, con còn phàm tục quá, nên cần phải được tu đức trước khi thật sự có thể vì tha nhân.
Bà Tam lại nhìn con:
- Dĩ nhiên, không ai hiểu con bằng cha mẹ. Nhưng mẹ vẫn chỉ nghĩ con còn bé nên chưa thấu hiểu được đi tu không chỉ là có cơ hội học hành, mà là một sự hy sinh tuyệt đối, mà mẹ thì e sợ con không có thể theo nổi. Hơn nữa, con thấy còn phải tốn phí hàng năm không ít. Nào là tiền học, tiền ăn, tiền tiêu dùng. Mà nhà mình gần đây thì con biết làm ăn cũng không khá gì. Hồi mấy năm trước, buôn bán thấy dễ dàng, nhưng càng ngày càng khó khăn con ạ. Đúng là người khôn của khó.
Nhưng nói tới đây, bỗng bà Tam ngừng nói, nhìn Thanh ôn tồn:
- Nhưng nói thì nói vậy thôi, chứ thật ra đi tu được thì phúc quá rồi. Mẹ chỉ sợ nửa chừng con đòi về thì không biết mẹ nói sao với bố con và mọi người.
Thanh nãy giờ vẫn im lặng nghe mẹ. Bây giờ mới dám lên tiếng:

- Con hiểu sự lo lắng của mẹ. Nhưng thưa mẹ, nếu con chưa có chủ đích thì con đâu dám thưa cùng bố.
Rồi Thanh mân mê tà aó thưa tiếp với bà Tam:
- Tiền bạc mẹ không phải lo cho con, hồi nãy vì bố nóng quá con đã không thưa kịp. Vì sơ Mỹ-Hằng thấy con thích đi tu nên đã tìm cho con được người bảo trợ. Chính vì thế con mới về thưa với bố mẹ.
Bà Tam ngạc nhiên nhìn con vừa hỏi vội vàng:
- Con nói sao, con làm con nuôi người ta để người ta giúp tiền con hả?
Thanh vội thưa ngay:

- Thưa mẹ không phải đâu, sơ Mỹ-Hằng nói với con là người này không hề biết con, và con cũng không cần biết họ là ai. Sơ Mỹ-Hằng còn nói, đây là hội yểm trợ ơn thiên-triệu chuyên môn lo cho các người có chí hướng dâng mình cho Chúa, dù nam hay nữ. Họ tự động đóng góp và không hề vụ lợi, vì tôn chỉ của họ là tiền của ở thế gian này chỉ là tạm bợ, đời sống thật mới là đời sau.
Nghe Thanh nói, bà Tam không ngờ, ở tuổi cuả Thanh, mà đối với bà vẫn còn quá nhỏ để thấu triệt những ý niệm đời sống. Bà Tam đắn đo rồi tâm sự với Thanh:
- Hồi mẹ còn bé, mẹ đã không được một phần của con. Thời đó, ông bà ngoại khó lắm, hơn nữa ở trong xóm đạo hình như mọi chuyện đều bị bưng bít. Mẹ nào có được ai hướng dẫn, chỉ bảo và thông cảm như con bây giờ. Mẹ còn nhớ, cả đời mẹ, dù là không sáng nào bỏ thánh-lễ Misa ban sáng, mà ở ngoài miền bắc thời đó đi lễ sớm lắm con, ba giờ sáng đã phải dậy, đi từng nhà gọi nhau, ai nấy chân trước chân sau vội vàng, không thì mất lễ. Thế mà, mẹ nhớ mãi tới khi mẹ lấy bố con, mẹ mới thực sự được hầu chuyện với cha-xứ. Mà thuở đó, nào có sơ nào về giúp xứ đâu.
Rồi bà Tam mơ màng:
- Tuy vậy mẹ cũng từng ao ước được đi tu. Mẹ có xin bà ngoại con, nhưng bà ngoại chỉ trả lời, mẹ đi rồi lấy ai ra đồng coi người làm. Mẹ nhớ lúc đó mẹ mới khoảng chín mười tuổi thôi con ạ. Ngoài miền bắc thuở đó, nhất là ở vùng quê, dù có chút của như ông bà ngoại con, nhưng con cái vẫn khổ lắm, nào có được học hành như con bây giờ.
Bà Tam im lặng một chút, lại phân trần với Thanh:
- Vì thế con cũng đừng trách bố con. Mai rầy thế nào ông ấy cũng đổi ý.
Thanh vừa xới cơm cho bà Tam, vừa thưa với mẹ:
- Thưa mẹ, làm sao con có thể trách bố được, con là con cái, bố có mắng con thì cũng chỉ muốn cho con tốt thôi. Nhiều lúc con nghĩ, cũng có thể vì bố lo xa, sợ rồi con không tu được, mai mốt về khó lập gia đình, vì ai cũng sợ những người ăn vụng cơm nhà Chúa.
Bà Tam vừa và cơm vừa nhìn con, lúc sau bà lắc đầu bảo con:

- Chả lẽ sơ Mỹ-Hằng cũng bảo con thế?
- Thưa mẹ không phải ạ. Chính là gương của chị Lan. Mẹ thấy từ ngày chị xuất tới giờ, chỉ âm thầm, ai cũng chòng ghẹo bóng gío với chị bằng những lời không đẹp. Vì thế đâu có cậu trai nào dám quen với chị Lan đâu. Con nghĩ cũng tội cho chị. Chị hiền, lại đẹp. Không những thế chị còn giỏi nữa. Đáng lẽ người ta phải dùng chị, thì lại khiến chị càng mặc cảm vì nợ cơm nhà Chúa.
Bà Tam không nói gì thêm. Nhưng vừa nhai, bà vừa nhớ lại hình ảnh của hai mươi năm về trước nơi xứ đạo bà. Bà âm thầm chạnh thương cho Lan như thương cho người bạn thân thủa thiếu thời của bà. Ngày đó, Nụ là cô gái rất dễ thương, Nụ cùng đội nghĩa-binh Thánh-Thể với Soi, nhũ danh của bà Tam. Soi và Nụ như bóng như hình. Nhà của Nụ lại chỉ cách nhà Soi hai nhà về phía cuối làng. Nên Nụ luôn luôn là người thức trước đến kêu Soi, trước khi cả hai cùng đi kêu các bạn bè khác cùng đội. Và khi thánh-lễ xong, ngày nào cũng thế, cả hai cùng trên đường về trong bóng đêm vẫn còn ngái ngủ của một buổi sáng đang chờ. Nụ lúc đó có những sự tế nhị và đạo đức mà mãi sau này khi Nụ rời làng Soi mới cảm nghiệm được. Không biết Nụ được ơn từ đâu, dù ở chốn quê mùa, Nụ vẫn có những khuynh hướng mà Soi không hề nghĩ đến. Nụ luôn ao ước, một ngày nào đó, Nụ sẽ được đi tới những nơi, những người bị phong hủi, hay những viện mồ côi để săn sóc và giúp đỡ họ. Nụ thường tâm sự, rất thành khẩn với Soi:
- Chúng mình có phúc, vì còn cha, còn mẹ. Chúng mình lại được Chúa gọi là con của Chúa, nên chúng mình phải biết chia sẻ với những đứa trẻ khác, cùng tuổi mình, đang sống lây lất bệnh tật.
Lúc đầu nghe, Soi chỉ tưởng đây là những điều đạo đức bình thường qua miệng của những kinh bổn hàng ngày. Nhưng không, Nụ đã tìm cách, và khi vừa mười lăm, giữa lúc gia đình đã có người dòm ngó cưới hỏi, vì thuở đó, những người con gái lập gia đình rất sớm, đôi khi mười ba, mười bốn tuổi, vẫn còn ngây thơ chưa hề hiểu rõ hôn nhân là gì, mà đã phải vâng lệnh bố mẹ đi lấy chồng. Nụ rời xứ đạo không ai biết Nụ đi đâu. Mãi tới bốn năm sau, tự nhiên Nụ trở về xóm đạo với chiếc áo dòng trắng. Nhưng vì những lời đồn thổi không tốt về Nụ từ trước đã trở thành những mặc cảm tồi tệ về Nụ, nên Nụ đã không được tiếp đãi ân cần của một nữ-tu. Hơn thế nữa những người trong làng còn coi như một giả dối qua mắt mọi người.
Ông bà Ca, thân sinh ra Nụ, cũng vì chuyện Nụ bỏ đi, dù ông bà biết là Nụ không phải theo trai như lời đồn đãi xấu sa, đã phải mang tiếng và đau buồn vì những lời châm biếm, nguyền rủa không ít. Nhưng vì ông bà Ca gia cảnh rất nghèo, lại là người chỉ biết cam chịu vào số phận, nên đã lầm lũi cúi mặt làm ngơ mọi thị phi đưa tới. Tuy nhiên, khi nhìn thấy Nụ trong chiếc áo dài trắng, bà Ca đã như trong mơ. Nhưng ông Ca lại càng lo lắng, vì cả đời sống trong chiếc khung làng, ông nào có biết thế nào để có thể con mình, một đứa con gái mà với ông, vừa dại khờ, vừa nghèo khó, có thể thành nữ-tu, nên dù con mình đứng trước mặt, ông vẫn thấy như trong giấc mơ.
Và cũng chỉ một lần, và một lần duy nhất Nụ trở về làng. Từ đó những huyền thoại về Nụ không ít. Người ta đặt ra những câu chuyện về người con gái trốn nhà theo trai trở về làng trong chiếc áo trong trắng... và bằng đầy những ngôn ngữ ác độc đã khiến ông bà Can phải rời làng.
Và có thể đây cũng là ảnh hưởng tới đời Soi không ít, vì dẫu sao Nụ cũng là bạn thân của Soi..
Vì thế, khi nghe Thanh nói tới chuyện của Lan, bà Tam không thể nào hiểu nổi con người. Phải chăng cuộc đời này chua cay đã không đủ, để con người phải tìm thêm những đắng cay, dằn vật, và tưới thêm sầu não cho nhau... Tuy thế bà Tam vẫn bảo Thanh:
- Cuộc đời là thế đấy con, nên khi làm điều gì, con cần nghĩ trước nghĩ sau.
Thanh cắt lời bà Tam:
- Nhưng chị Lan đâu có lỗi gì thưa mẹ. Chị muốn nhưng Chúa không chọn chị thì sao?
- Mẹ biết, nhưng mẹ đã nói với con nhiều lần. những người thông cảm cho người khác hiếm lắm con ạ. Vì thế, mẹ mới nói, không cần phải đến tu-viện mới là đi tu, mà ở đâu con cũng có thể tu. Một lời nói tốt cho người khác, một cử chỉ vì danh Chúa. Một hy sinh cho bạn mình, một lời cầu nguyện chân thành cho kẻ hại mình... đấy không phải là tu sao? Nên, sự học hỏi để có thể sống tốt lành, không phải hòan toàn trong sách vở, mà còn nhờ vào kinh nghiệm sống nữa. Ông ngoại không cho mẹ đi học nhiều, nhưng mẹ sở dĩ có ngày hôm nay là mẹ biết và luôn nhìn những người chung quanh, để rồi từ đó mẹ học hỏi, hoặc tránh né. Con người, nhân vô thập toàn, nhưng nếu con biết thế thì tự con đã hiểu phần nào lẽ sống ở đời.
Thanh nhìn bà Tam vừa hãnh diện, vừa nhỏ nhẹ:
- Con cám ơn Chúa đã cho con người mẹ am hiểu và đạo đức như mẹ. Nhưng mẹ thử nghĩ coi, nếu mẹ có cơ hội đến trường để học hỏi và mở mang kiến thức thêm, thì mẹ sẽ hiểu rộng hơn nhiều. Nhờ đó mẹ có thể đóng góp cho tha nhân.
Bà Tam lắc đầu:
- Không phải ai có học cũng là người hiểu biết đâu con. Có những người có học, tưởng mình hơn người, nên đã không còn coi con người là con người. Sự kiêu ngạo đã dần biến họ thành những dụng cụ sắc bén cho bạo hành quyền thế. Có những kẻ có học trở thành vô học, vì họ dùng sự hiểu biết của học vấn để làm lợi bản thân bất chấp thủ đoạn. Con dao sắc trao cho người hiền lương, thì nó trở thành một công dụng hữu dụng, nhưng nếu trao cho kẻ bất chính thì nó sẽ gây nên những án mạng không lường. Mẹ nói thế thì con hiểu rồi.
Rồi bà lại thong thả:
- Hơn nữa chưa chắc mẹ được ăn học đầy đủ, mẹ lại được như hôm nay. Biết đâu giờ này mẹ lại chẳng đang bon chen rồi quên mất gia đình. Vì con thấy chắc chi những người có của đã hạnh phúc bằng những người nghèo khó. Cuộc đời là thế con ạ. Bằng lòng, và tìm cho mình hướng đi, còn mọi sự hãy dâng cho Chúa. Con thấy chim chóc, cây cỏ từ đâu có, và vì sao vẫn tồn tại? Phải chăng đã từ một Đấng quan phòng sao?
Càng nghe mẹ, Thanh càng cảm thấy phục mẹ. Bà Tam, qủa sống như một chiếc bóng mờ trong gia đình. Mọi chuyện đều do chồng. Bà cam chịu và coi mình như một bổn phận duy nhất với chồng con. Thế tại sao bà Tam lại có những tư tưởng thâm sâu đến thế. Quả thật, một người chưa bao giờ đến trường, chưa bao giờ biết triết-học là gì, thần học là gì. Hơn nữa cả đời chỉ biết ở nhà, nhà thờ và cũng rất hiếm hoi có dịp lên tỉnh, thì từ đâu bà có. Phải chăng như bà Tam nói, dù hoàn cảnh nào, nếu ta thực sự muốn học hỏi cũng không phải không có cơ hội. Vì biết đâu, những điều tìm thấy nơi bà Tam, chính là những tư tưởng của những bài giảng được dẫn giải từ những bài phúc-
âm mà bà đã được nhắc nhở hàng ngày. Sự may mắn ở bà Tam có lẽ là bà đã được Chúa ban cho trí nhớ và sự lắng nghe. Hơn nữa, bà lại có may mắn khác là đã ở một xứ-đạo, có một linh- mục chánh-xứ biết dùng phúc-âm và kinh-thánh dẫn giải hàng ngày, đặc biệt luôn biết vì giáo dân, sống khiêm nhường và chân thật theo đường Chúa dậy. Vì quả thật, thánh-lễ Misa không chỉ thuần chất lập lại cuộc đời cứu chuộc của Đức Kitô, mà còn chỉ rõ con đường Ngài dạy, thì sao có thể coi nhẹ những gì Chúa đã huấn dậy. Do đó nhiệm vụ của linh-mục quả là quan trọng, nếu những sự suy gẫm trong các bài đọc và phúc-âm không được đứng đắn giảng giải thì quả là thiếu sót và thiệt hại lớn cho giáo- hội, vì đi đạo mà không rõ đạo hóa ra đã cuồng tín sao?
Thanh còn đang lẩn quẩn trong ý nghĩ, thì có tiếng gõ cửa. Bà Tam nhìn Thanh như thầm hỏi. Nhưng Thanh lắc đầu thưa:
- Con không biết ai lại tới nhà mình tối thế này? Nói thế, nhưng Thanh cũng đứng dậy ra mở cửa.
Bà Tam nhìn dáng đi của Thanh lòng tràn một hãnh diện, vì quả Thanh đã lớn và tới tuổi dậy thì, nên những nét đẹp đang hình thành mà mãi tới hôm nay bà mới chợt nhận ra. Nhưng chính vì thế mà một sự lo lắng trong bà Tam vừa triển nở, khiến bà lâng lâng buồn vui lẫn lộn.
Cửa vừa mở, cả Thanh và bà Tam đều ngạc nhiên khi tiếng
Mỹ-Hằng vồn vã:
- Chào bà Tam, Thưa bà ông Tam có nhà không ạ?
Thanh nhường chỗ cho Mỹ-Hằng vào, vừa thưa thay mẹ:
- Thưa sơ, bố em vừa ra ngoài có chút việc.
Mỹ-Hằng vào hẳn bên trong, miệng vẫn tươi cười:
- Hôm nay bà đóng cửa hàng sớm hơn mọi ngày phải không bà?
Bà Tam thong thả, giọng lễ phép:
- Thưa sơ, cũng không sớm đâu. Ngày nào chúng tôi cũng đóng cửa lúc tám giờ.
Mỹ-Hằng vừa nghe thế, như mới chợt nhớ ra:

- Ấy chết, như vậy hôm nay cháu đến phiền ông bà qúa trễ. Thật cháu vô ý quá. Xin bà thứ lỗi. Từ chiều tới giờ cháu bận mấy lớp giáo-lý nên đã không ra thăm ông bà trước được, mà ngày mai thì lại về tỉnh-dòng có chút chuyện do bề-trên sai bảo.
Nhưng bà Tam đã nhanh nhẹn:
- Thưa sơ, sơ đừng nghĩ ngợi. Được sơ đến thăm là qúy hóa lắm rồi.
Thanh đứng im, bây giờ mới thêm vào:
- Em xin lỗi sơ. Hồi chiều sơ dặn, em quên mất. Và Thanh quay qua bà Tam:
- Thưa mẹ, sơ có nói con về thưa với mẹ, tối sơ ghé thăm có chút chuyện mà con chưa kịp thưa với mẹ.
Bà Tam nhìn con mắng yêu:
- Rõ con đoảng lắm, có thế mà không nhớ. Rồi bà nhìn Mỹ-Hằng nói:
- Chúng tôi xin lỗi sơ. Nhà cửa bê bối quá. Nhà hàng lúc nào cũng bề bộn, Thanh nó lại không nói trước.
Nói vậy, nhưng bà biết tại sao Thanh quên, vì từ chiều tới giờ, Thanh đã bị ông Tam bắt qùy, chửi mắng và còn bị đòn nữa.
Nhưng Mỹ-Hằng thì lại rất thành thật, nên đưa mắt nhìn quanh. Căn nhà ông bà Tam không lớn lắm, được ngăn ra làm hai bằng bức vách gỗ có kê một chiếc kệ hàng nằm ngang. Bên trong ngay cửa vào là chiếc bàn ăn hình vuông. Nên Mỹ-Hằng nhìn thấy mâm cơm còn đang ăn dở, nhanh nhẹn:
- Bà và Thanh cứ tự nhiên dùng bữa ạ. Nhưng bà Tam thưa ngay:
- Thưa Sơ chúng tôi dùng xong rồi. Và bà đùa vui:
- Sơ có thấy mẹ con tôi hư qúa không, cơm ăn xong rồi mà cũng chưa thèm dọn. Người ngoài mà biết thì con Thanh nhà tôi đến ế mất.
Thanh nhìn bà Tam lẩm bẩm kêu, dù Thanh biết bà Tam chỉ nói đùa:
- Mẹ!
Nhưng Mỹ-Hằng mỉm cười:
- Thưa bà đừng lo chuyện đó, vì đã có người để ý tới Thanh rồi.

Bà Tam nghe thế trợn mắt ngạc nhiên, vì cho tới nay, bà nào biết ai để ý tới con mình đâu. Nhưng sơ Mỹ-Hằng đã không để bà Tam chờ đợi, tiếp:

- Chính vì chuyện đó mà cháu đã đến thưa chuyện với ông bà tối nay.
Ngừng một chút Mỹ-Hằng tiếp:
- Nhà dòng chúng cháu vừa có một sơ từ Pháp mới về để tìm hiểu thêm ơn thiên-triệu bên nhà. Nên mai cháu phải về nhà dòng sớm để đưa danh sách các em mà cháu nghĩ có được nhiều triển vọng, hầu nhà dòng lập danh sách chính thức để gửi về Pháp.
Rồi Mỹ-Hằng nhìn Thanh:
- Cháu nghĩ, cháu không cần thưa với ông bà, thì ông bà cũng qúa rõ, Thanh đã có ý định đi tu từ lâu, và với hạnh kiểm và đức hạnh của Thanh, cháu đến xin ông bà có thể cho phép Thanh được theo ý nguyện của Thanh. Và nếu ông bà cho phép, ngày mai cháu sẽ trình cùng mẹ bề-trên để Thanh được hưởng sự giúp đỡ đặc biệt của nhà dòng. Thực ra, ngay ở xứ nhà cũng không ít các em muốn đi tu, nhưng số dự viên có giới hạn, nên cháu phải cân nhắc theo từng em. Vả lại, dịp may này cũng hiếm lắm, vì Thanh sẽ không phải chi trả đồng nào, đã có hội bảo trợ giúp đỡ hoàn toàn, như vậy cũng đỡ phần nào cho ông bà.
Bà Tam nghe thế thì cũng mừng trong lòng, nhưng vì bà sao dám quyết định một mình. Dầu sao cũng phải có sự bằng lòng của ông Tam. Nên suy nghĩ một chút, bà Tam khéo léo:
- Nhà tôi không có ở nhà, hay sơ để tôi thưa với ông nhà tôi trước được không?
Mỹ-Hằng vui vẻ:
- Thưa bà chúng cháu hiểu.
Và như vừa nhớ ra, Mỹ-Hằng nói ngay:
- À, hồi chiều cháu cũng có thưa qua với cha-xứ, ngài mừng lắm. Vì chính ngài cũng đồng ý với chúng cháu. Ngài khen em Thanh vừa ngoan đạo lại vừa thông minh. Ngài hỏi cháu có cần ngài giúp đỡ gì em Thanh không?
Thanh nhìn Mỹ-Hằng lòng thầm cảm ơn.
Riêng bà Tam, thương con, nhưng thực sự bà cũng lo lắng không biết phải làm sao để ông Tam chấp nhận cho Thanh đi tu. Nhưng đành vậy biết sao. Vừa lúc đó, lại có tiếng động ngoài cửa. Bà Tam tưởng chồng về nên nhìn Thanh lòng hơi áy náy. Vì qủa thực bà Tam không muốn ông Tam gặp Mỹ-Hằng lúc này, vì bà sợ men rượu vẫn còn, ông Tam lại có lời khiếm nhã với bậc tu trì, nhất là ông Tam thường luôn không mấy trọng các nữ-tu như nam-tu sĩ. Kể ra thật cũng mất công bằng.
Bỗng bên ngoài lại có tiếng động, Thanh lo lắng nhìn mẹ. Nhưng bà Tam coi vẻ trầm tĩnh hơn. Bà tiến đến cửa nhìn ra. Bà ngạc nhiên vì không phải ông Tam mà là Thúc, cậu giúp lễ ở trong nhà xứ. Bà không đợi, vì bà đoán phải có gì cậu giúp lễ mới ra tối thế này, nên bà Tam vừa mời vào nhà vừa hỏi dồn:
- Mời cậu vào chơi. Có gì cần không mà cậu đến chúng tôi trễ thế?
Ở các xứ đạo, các cậu giúp lễ được ở nhà xứ thường là những người đã được linh-mục chánh-xứ thương yêu và chuẩn bị sẵn sàng để luyện thi vào các tiểu chủng-viện hay nhà dòng. Nên ai trong xứ cũng có cảm tình đặc biệt. Nhất là các cậu giúp lễ còn là các liên lạc viên để linh-mục chánh-xứ nhờ đi tìm ai khi có chuyện. Nên ai có tật rất ngại, như chính bà Tam ho- ang mang lúc này. Mặc dầu linh-mục chánh-xứ đương nhiệm là người luôn sống rất công bằng với mọi người.
Thức ngập ngừng, vừa khiêm tốn e như nếu không nói ra sợ rồi cậu quên mất lời linh-mục chánh-xứ đã dặn, đây cũng là sự đào tạo khéo léo cho những người trẻ để tìm căn bản khiêm nhường trước khi thật sự được gửi vào tiểu chủng-viện:
- Thưa bà, cha xứ cho cháu ra để mời ông ngày mai, sau thánh-lễ vào gặp cha, cha có chút chuyện nhờ ông.
Ba Tam tỏ vẻ lo lắng:
- Chuyện gì đấy cậu?
- Thưa bà cháu không biết ạ. Cha chỉ dặn cháu bấy nhiêu thôi.

Vừa lúc đó Mỹ-Hằng cũng ra cửa. Thức vừa thấy, khoanh tay cúi chào Mỹ-Hằng:
- Thưa sơ ạ.
Rồi Thức quay qua bà Tam:
- Thưa bà cháu xin phép bà và sơ cháu về.
Bà Tam gật đầu không nói, lòng bà có sự lo lắng thật sự, vì bà vẫn không biết vì sao linh-mục Lam cho gọi ông Tam, hay lại có chuyện gì liên quan tới việc linh-mục Lam mới đề cử ông Tam làm việc trong hội-đồng giáo-xứ mới đây. Vì ngay khi linh- mục Lam cho gọi ông Tam vào lần vừa rồi để chỉ định ông giữ chức trùm-khu, bà đã nghe bao lời dèm pha không tốt cho ông Tam. Có người lại còn thêu dệt những chuyện mà chính bà Tam chưa bao giờ nghĩ tới. Nào là chuyện ông nói xấu các linh-mục, và luôn tìm cách chống đối những công việc chung của giáo-xứ. Trong xứ đạo nào cũng thế, những người tốt, những người luôn sống bằng những lời kinh-thánh thật tâm cũng nhiều, nhưng không tránh khỏi những người bề ngoài thì đạo đức, nhưng trong lòng thì luôn sống trong hằn thù, ghen gét. Chuyện đáng làm, không làm, lại luôn tìm cách bới móc, mà lẽ ra, với đời sống Kitô thật sự không nên tìm bới. Vì sự tha thứ là nền tảng của lời Chúa. Con đường Chúa dậy qủa rõ ràng: “Nếu các con nói thương yêu Thầy, mà các con không thương anh em mình là các con nói dối”. Quả thật, lòng bác ái và vị tha luôn là mấu chốt của đời sống Kitô.
Bà Tam còn đang phân vân, thì có tiếng Mỹ-Hằng:
- Cháu đã đến phiền bà qúa lâu. Cháu cũng xin phép bà cho cháu về, ngày mai cháu đi chuyến xe sớm. Bà cầu nguyện cho cháu với.
Và nhìn Thanh, Mỹ-Hằng nhỏ nhẹ:
- Thanh có sẵn sàng chưa?
Thanh từ nãy giờ vẫn đứng gần mẹ, nghe Mỹ-Hằng hỏi e lệ lên tiếng:
- Thưa sơ vâng.
Bà Tam cũng quên đi sự lo lắng, bà vừa nhìn Mỹ-Hằng vừa nhìn Thanh. Một lúc bà mới nói:
- Cám ơn sơ đã chỉ dậy em. Em nó được như ngày hôm nay là nhờ vào sự thánh thiện của sơ rất nhiều. Tôi không biết ai nói sao, chứ riêng tôi, đời sống một nữ-tu phải trải qua nhiều khó khăn và can đảm lắm phải không sơ? Vì thế, tôi luôn sợ con Thanh nhà tôi, nó còn bé, lại vụng về, nên dù chúng tôi có cho phép cháu, nhưng không biết nó có đi tu nổi không. Có lẽ vì thế mà ông nhà tôi luôn lo sợ.
Mỹ-Hằng mỉm cười thật tươi, nhìn Thanh và bảo:
- Thanh có phúc lắm, có bà đây thông cảm và lo lắng thế này thì còn gì bằng.
Và quay qua bà Tam, Mỹ-Hằng thưa nhỏ:

- Bà qúa khen cháu, thực ra, chúng cháu rất tầm thường, và chính nhờ sự tầm thường đó mà chúng cháu được qúy ông qúy bà thương mến. Vì nếu không có lời cầu nguyện của qúy ông bà, chúng cháu cũng khó có thể đạt thành, dù là một sự nhỏ mọn nhất. Còn việc của Thanh, thôi mình cứ dâng cho Chúa định liệu. Mọi sự đều có Chúa quan phòng, phải không thưa bà?
Bà Tam cũng thưa:
- Các sơ khiêm nhường qúa.
Mỹ-Hằng thấy cũng đã trễ, không muốn nấn ná thêm, cúi đầu chào bà Tam rồi ra về.
Bà Tam nhìn theo, không đóng cửa vội. Tự dưng bà thấy dáng Mỹ-Hằng thật đoan trang và thánh thiện. Bỗng từ đâu câu hỏi: “ Sao một người con gái đẹp, ngoan và đức hạnh như thế có thể bỏ tất cả để đi tu”.
Quả thật, Mỹ-Hằng là một cô gái không chỉ ngoan, hiền, mà có một sắc đẹp khó ai sánh kịp. Hơn nữa lại là con một, của một gia đình giầu có. Ông thân sinh ra Mỹ-Hằng là quan- ba thời Pháp, với rất nhiều quyền uy một thời. Và sau ngày vĩ tuyến mười bảy bị cắt đôi, di cư vào nam, ông đã tạo được một sự nghiệp vững vàng nhờ sự quen biết xưa. Chính nhờ vào sự giầu sang của bố mẹ, mà Mỹ-Hằng đã được theo học trường Pháp ngay từ hồi tấm bé. Và nhờ nền giáo dục Pháp, Mỹ-Hằng có lối nhìn và cách suy luận khác với nhiều người con gái cùng lứa. Tuy thế Mỹ-Hằng vẫn luôn giữ được sự khiêm nhường tiềm
ẩn của một người con gái bình dị, nên hoàn cảnh nào Mỹ-Hằng cũng được mọi người mến yêu. Nhưng Mỹ-Hằng cũng đã phải trải qua một thời kỳ khó khăn không ít, có lẽ còn hơn Thanh rất nhiều. Vì với tâm tình phóng khoáng và trong một gia đình truyền thống tây-phương hơn đông-phương, Mỹ-Hằng đi chơi với các bạn tương đối dễ dàng và thong thả. Nên khi Mỹ-Hằng có ý định xin đi tu, mọi người không ai có thể ngờ được, nhất là bố mẹ Mỹ-Hằng, khi nghe Mỹ-Hằng thưa về ý định của mình, mẹ Mỹ-Hằng đã cười không thành tiếng, mãi sau bà mới lắc đầu bảo Mỹ-Hằng:
- Con mà đi tu được thì có lẽ cả nước ai cũng có thể đi tu hết.

Nhưng Mỹ-Hằng đã trầm tĩnh thưa với mẹ:

- Mama cười gì vậy, con thưa thật với mama mà. Con đâu dám đùa đâu.
Lúc đó mẹ Hằng vẫn chưa thể tin, nên bà hỏi vặn lại:
- Con nói con đi tu, là vào nhà dòng tu hả? Mỹ-Hằng bình thản:
-Thưa mama vâng.
Lúc này thì mẹ Mỹ-Hằng không còn cười nữa, nhưng mặt bà như tái lại, vì làm sao bà có thể tin và ngờ chuyện Mỹ-Hằng đi tu là chuyện có thể xảy ra, nhất là gần đây, bà đã có ý định làm đám hỏi cho Mỹ-Hằng với con bà bộ-trưởng mới du học bên Pháp sắp về nước nay mai. Nên bà càng nhìn sâu trong mắt Mỹ- Hằng. Mỹ-Hằng thấy nét mặt mẹ thay đổi thì bỗng hơi lo, nhưng Mỹ-Hằng cũng cố nói:
- Con xin papa và mama cho con đi tu, đây không phải là ý nguyện nhất thời, nhưng hình như, dù con đã cố gắng thử mình để quên đi ý định này bằng cách sống bất cần và buông thả. Nhưng rồi con cũng đã thua cuộc. Vì ngay cả lúc đùa vui với bạn bè, con vẫn không thể nào quên hình ảnh của một nữ-tu hiến dâng mình cho Chúa để phục vụ tha nhân. Nhất là từ ngày mẹ nói với con về chuyện anh Kha về nước, thì con lại càng cảm thấy ngượng ngập và không một chút thích thú nào. Trái lại con còn cảm thấy trống vắng lạ lùng. Chính vì thế, gần đây con đã thường đi dự thánh lễ mỗi buổi chiều, để cầu nguyện xin Chúa soi sáng cho con. Và quả là một phép lạ, vì hôm qua, tình cờ con gặp một sơ người Pháp. Con nói chuyện và được sơ cho biết rất nhiều. Có lẽ đây là một dấu chỉ của Chúa sau những ngày con cầu nguyện. Sơ người Pháp còn kể con nghe về đời niên thiếu của sơ. Thật là một gia đình quyền qúy, cao sang. Nhưng sơ đã theo tiếng gọi của Chúa, theo chân Ngài trong việc truyền giáo. Vì với sơ, tiền của thế gian chỉ là những vẩn mây mỏng, nó có thể tan biến bất kỳ lúc nào, nhưng nếu chúng ta biết sống đời sống hy sinh trong Chúa cho anh em chúng ta, thì hạnh phúc sẽ mãi triền miên, vì thực ra, hạnh phúc của kẻ nhận lãnh không bằng người cho.
Mẹ Mỹ-Hằng như trên mây, bà vẫn không thể tin là chính đứa con gái duy nhất của mình, đứa con mà bà đặt biết bao hy vọng trên đường công danh sự nghiệp. Bà đã từng nghĩ, dù Mỹ- Hằng là con gái, nhưng bà sẽ đào tạo để trở nên một người hoạt bát sinh hoạt không khác con trai. Hơn nữa của cải mà bà gầy dựng hẳn không phải là vì Mỹ-Hằng sao? Nên bà càng nhìn Mỹ- Hằng như thôi miên. Bà lặng im như tưởng mình trong giấc mơ.
Mỹ-Hằng thấy mẹ vẫn im lặng nên đành lên tiếng tiếp:
- Mama cũng đừng nghĩ con nhẹ dạ nghe mama! Rồi suy nghĩ một chút Mỹ-Hằng lại tiếp:
- Có lẽ con là người có phúc nên con mới được nghe thấy lòng mình muốn gì. Con từng suy nghĩ, đời papa và mama, rồi tới đời con.. chúng ta đang đi tìm sự gì ở đời? Chẳng phải là niềm hạnh phúc sao? Nhưng hạnh phúc ở đâu? Thường con người nghĩ, nếu có tiền là có hạnh phúc, nhưng họ có ngờ rằng, nhiều khi tiền của còn làm ta mất đi niềm hạnh phúc. Con nghĩ, chỉ có một niềm hạnh phúc duy nhất luôn tồn tại và ai cũng có thể lãnh nhận, là chấp nhận những gì mình có, sống với mình và chia sẻ cho tha nhân. Chính vì thế, con thấy lòng con thật thanh thản khi con làm được điều gì cho ai. Khi con dắt một cụ già qua đường, con thấy lòng con như vừa được tưới mát. Hay khi con nhịn một phần quà để cho kẻ khó, lòng con như no hơn nhiều.
Mắt Mỹ-Hằng như sáng dậy, và trong khoảnh khắc Mỹ- Hằng như muốn trải hết niềm vui mà gần đây Mỹ-Hằng đón nhận để mẹ cùng vui hưởng. Nhưng mẹ Mỹ-Hằng không còn muốn nghe điều Mỹ-Hằng nói, nên mẹ Mỹ-Hằng, giọng hơi buồn bực bảo:
- Mẹ nghĩ con bị ai dụ dỗ nên mới thay đổi nhanh thế, vì
từ bé có bao giờ con nói những chuyện này cho mẹ nghe đâu?
Rồi bà nhấn mạnh:
- Papa con mà nghe, mẹ sợ papa con giận lắm. Nghe mẹ nói xong, Mỹ-Hằng thong thả:
- Con lại nghĩ, nếu quả thật con đi tìm hạnh phúc của con, thì lẽ nào papa và mama lại cản con. Nên con tin vào sự lựa chọn của con. Hơn bằng, sau này nếu qủa thật đời sống ngoài đời không thích hợp, thì có lẽ papa và mama sẽ ân hận cho con nhiều hơn.
Tuy nhiên, Mỹ-Hằng đã phải chịu bao cam go, khó khăn trước khi Mỹ-Hằng thật sự gia nhập dòng tu. Nhưng trước ngày Mỹ-Hằng sách va ly chào bố mẹ, Mỹ-Hằng cũng đã không thể nào cầm được nước mắt trước những giọt nước mắt của người bố mà cả đời Mỹ-Hằng chưa hề thấy đổ ra. Điều này chứng tỏ bố Mỹ-Hằng đã đau khổ thật nhiều, nhưng vì thương Mỹ-Hằng, bố
đã phải cắn môi để nuốt từng giọt nước mắt ..........

Bà Tam còn đang nghĩ về đời Mỹ-Hằng, thì tiếng ông Tam hắng dặng từ đầu ngõ. Bà và Thanh vội quay vào thu dọn bát đĩa còn ngổn ngang trên bàn. Bà Tam bảo Thanh:
- Bố về, cứ làm như không có gì nhé con. Chuyện của con để mẹ liệu cho.
Thanh trả lời:
- Thưa mẹ vâng. Con cám ơn mẹ. Và Thanh tiếp:
- Thưa mẹ, dẫu bố mẹ quyết định thế nào con cũng xin vâng lời.
Nói xong, Thanh hơi rướm nước mắt, những giọt nước mắt chịu đựng như dâng trào, một khoảnh khắc của suy tư lắng đọng.
Bà Tam thấy con khóc, bà vội bảo:
- Thôi xuống nhà rửa chén đi con.
Bà Tam không muốn nói thêm vì sợ chính bà cũng không cầm nổi nước mắt. Nước mắt của tình mẫu tử luôn như cùng một thác đổ của một dòng suối chảy. Bà lắc đầu để khuây đi sự lo lắng cho Thanh.
Vừa lúc đó, ông Tam bước vào nhà. Ông nhìn chung qua- nh, tự nhiên ông hỏi:
- Có ai mua hàng trễ vậy? Bà Tam nhìn chồng:
- Có ai đâu.
Nhưng ông Tam vẫn như chưa tin:
- Không có ai sao mẹ con bà mở cửa trễ thế.
Lúc này bà Tam mới chợt nhớ ra, từ lúc sơ Mỹ-Hằng về, cửa vẫn còn mở. Bà thở dài, nhìn ông Tam vừa hỏi:
- Ông đi đâu giờ mới về?
Ông Tam lúc này đã tỉnh, nên không còn gắt gỏng. Gịong ông Tam ôn tồn hơn:
- Thì qua ông Ba nói chuyện, chứ đi đâu.
cũng không đến nỗi cau có lắm, nên bà nói:
- Ông say như vậy mà đến nhà người ta, không sợ họ cười cho à.
Ông Tam như cũng nhận ra lỗi mình, ông ậm ự:
- Tôi uống đâu có nhiều đâu.
Tâm lý người uống rượu hình như ai cũng thế, lúc say coi trời bằng vung, nhưng khi hơi men đã loãng dần, thì lại rất hiền lành. Không biết đây có phải là định luật, hay vì nói quá nhiều nên lúc tỉnh hết lời rồi chăng.
Bà Tam thấy chồng đã hết men say, nên chậm rãi:
- Ông có nói gì hay làm điều gì phật ý ai không?
Ông Tam nhìn bà Tam ngạc nhiên, bà Tam thấy vậy nói tiếp:

- Cậu giúp lễ vừa ra, nói ngày mai ông vào gặp cha xứ gấp.

Cha có chút chuyện nói với ông.
Ông Tam trợn mắt nhìn bà Tam, gịong ông hơi bối rối:
- Bà có đùa tôi không, gần đây tôi như người câm, người điếc, tôi có nói gì đụng chạm tới ai đâu.
Rồi ông suy đoán:
- Hay cha cho kêu tôi để bàn về công việc mới của tôi.
Bà Tam nghe vậy, thấy cũng có lý, nên bớt âu lo phần nào, bà bảo ông:
- Cậu giúp lễ cũng vừa ra tới cửa, thì ông về đó.
Ông Tam gật gù, tuy nhiên lòng ông hơn phân vân, vì ông thực sự không thể đoán ra. Tuy nhiên, ông cũng cười bảo bà Tam:
- Mai thì biết có gì đâu. Vả lại cha xứ là người rất hiểu biết, chả lẽ cha đi nghe bậy nghe bạ mấy đứa rỗi hơi. Tôi gàn nhưng gàn phải. Cây ngay đâu sợ chết đứng, nếu không cha đâu có giao chức vụ cho tôi.
Bà Tam lắc đầu bảo ông Tam:
- Từ nay đi, mình không làm được, thì ai làm kệ họ. Mình đã không giúp được nhà xứ, thì cũng đừng chê bôi gì. Đã không được ích, mà chuốc tội vào thân. Ông cứ học tính bác Hảo, nếu điều gì không phải, vào trình cha, nhờ cha giúp ý, chứ có bao giờ ông nghe bác Hảo chê bôi ai không. Ai làm việc bác ấy cũng khen tốt, vì thực sự, ăn cơm nhà, vác ngà voi không dễ đâu.
Ông Tam đi hẳn vào trong, miệng lẩm bẩm:
- Bà lại tính làm mục-sư giảng dậy rồi. Khổ qúa, biết rồi, còn nhai đi nhai lạ như cơm nguội.
Rồi ông chợt nhớ ra, ông hỏi:
- Con Thanh nó đã ăn uống gì chưa?
Bà Tam nghe chồng hỏi thế, lòng vô cùng an ủi, tuy nhiên bà cũng làm giọng dỗi hờn:
- Gớm, sao thương con thế, chờ cho bố hỏi tới thì con nó chết đói rồi.
Và bà giọng nghiêm nghị:
- Nó đã lớn rồi, lại là con gái, mà ông đánh đập nó như thế ông không thấy qúa đáng sao? Từ nay, tôi xin ông, nếu ông muốn cho con nên người thì phải răn dậy nó cách khác, chứ hơi đụng đến là ông đã dùng tay, dùng chân. Nói dại, nếu lỡ đụng vào chỗ huyệt, nó bị thương nặng, ông có sống nổi không.
Ông Tam suy nghĩ một chút, rồi ông qủa quyết:
- Tôi hứa với bà, từ nay tôi không đánh mấy đứa nữa, nhưng bà phải bảo nó là đừng bao giờ có ý định đi tu. Nó muốn đi thì chỉ có bỏ nhà này mà thôi.
Và như lo lắng điều gì, ông nói nhỏ hơn:
- Nhưng bà và nó mà nói cho ai biết, đến tai cha-xứ biết được tôi cấm con Thanh đi tu, là mẹ con bà liệu hồn.
Bà Tam trợn mắt nhìn chồng. Bà không ngờ ông Tam cứng rắn đến thế. Bà Tam lắc đầu định phân trần điều gì, nhưng nghĩ sao, lại thôi. Vì bà Tam cũng như bao người đàn bà Việt Nam khác, tùng phục như trong huyết quản, nên nhiều lúc có muốn nói cũng đành thôi để cho nhà cửa yên vui.
Thanh nãy giờ ngồi rửa chén dưới nhà, nhưng không sót một lời của bố mẹ. Nên nước mắt Thanh chảy ròng. Lòng Thanh đã tuyệt vọng cùng cực. Phải trả lời sơ Mỹ-Hằng thế nào mà tránh cho sơ khỏi nghi ngờ về chuyện gia đình Thanh.
Như Thanh đã thưa cùng mẹ, dù bố mẹ quyết định thế nào, Thanh cũng vâng lời, vì Thanh tin có thể đây là ý Chúa muốn Thanh tiếp tục con đường sống ở ngoài đời, con đường mà Ngài đã chọn cho Thanh. Vả lại, Thanh là người con gái, dù đang tuổi lớn, nhưng rất biết vâng lời. Thường ở tuổi Thanh, nhiều đứa con gái đã bắt đầu se sua, nhìn ngang nhìn dọc, nhưng Thanh hoàn toàn kềm chế và luôn tạo cho mình cách sống phải lẽ, nên như lúc này, dù lòng Thanh rất buồn bực, nhưng Thanh vẫn tạo cho mình lối suy nghĩ tránh sự trách hờn. Thanh kiên nhẫn rửa từng cái chén trong nhẫn nhục.
Ngoài trời, những hạt mưa nặng hột tuôn đổ bất ngờ tạo những âm thanh hỗn độn ngay trên mái tôn nhà sau. Thanh thở dài, ngẩng nhìn và thầm nguyện xin Chúa cho mình một dấu tỏ như Ngài đã gửi đến cho Mỹ-Hằng trước kia.

(Còn tiếp)

 



 
Gửi góp ý
Tiêu đề
Nội dung

Những tin mới hơn

  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 1
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 1

    Tuyển Tập 9  

    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 16
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 16

    Thơ Doãn Quốc Vinh Doãn Quốc Vinh hâu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ, cố Vấn VĐĐT. Những tập thơ DQV sáng tác đã được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang, tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 3 tập thơ : Lục Bát Tùy Bút , Lục Bát Đôi Bờ và Thơ Tình của  Doãn Quốc Vinh

    (05/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 15
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 15

    Title: Em Sài Gòn Artist: Quang Minh Composer: Minh Tuấn Harmonist: Quang Đạt Lyricist: N&L: Nguyên Phan Minh Tuấn

     

    (05/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 7
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 7

    Một Thời Để Nhớ
    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 6
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 6

    Chiều Cali đọc thơ Quỳnh Giao - Lê Bình –

    Lòng mang những niềm riêng trong cái chung của quê hương. Dù ra đi xa vạn dặm, tình quê mãi mãi mang theo. Nỗi niềm riêng hay tiếng thở dài? Quỳnh Giao ghi lại: "Cây có cội nước có nguồn," Từ đi mang cả nỗi buồn tái tê Dù cho lạc dấu chân về Cũng không quên được tình quê trong đời" Bà Huyện Thanh Quan nhớ nhà khi chiều về: "Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Gác mái ngư ông về viễn phố Gõ sừng mục tử lại cô thôn Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Kẻ chốn chương đài người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn"

    (04/12/2011)

Những tin cũ hơn

  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 7
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 7

    TRUYỆN DÀI GS. NGUYỄN XUÂN VINH

    Tìm Nhau Từ Thuở

    (27/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 6
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 6

    Lịch sử nghìn năm khó thứ tha Ngỗ nghịch cộng nô dâng biển mẹ Bất tài bè lũ cố manh nha Vùng lên ta quyết, đòi sông núi Lật đổ loài gian, giữ nước nhà Chiến dịch phong trào đang chuyển dậy Chung lòng vững chí giữ quê cha. Cù Hoà Phong

    (27/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 5
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 5

    NHỮNG BƯỚC CHÂN VIỆT NAM

    Những bước chân đi dập dồn như sóng Sài gòn Hà Nội mọi nẻo quê hương Tuổi trè Việt Nam tỏ cùng thế giới Tiếng nói hào hùng chống phường vô lương

    Những bước chân đi tay nắm bàn tay Bất chấp hiểm nguy rình rập bủa vây Cùng cất tiếng chống lũ người ngang ngược Nước non này tuổi trẻ vẫn còn đây

    Những bước chân đi giữa rừng biểu ngữ Miệng hô to lời đối kháng giặc thù

    Niềm vui tôi rộn ràng trong lòng ngực Tuổi trẻ này sẽ sống mãi muôn thu.

    (27/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 4
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 4

    Mùa thu, lá xanh đổi màu vàng úa rơi rụng lìa cành, nương theo chiều gió. Nhưng đối với nghệ nhân, tuy cảnh nên thơ ấy không tìm thấy ở Houston nói riêng, ở Hoa Kỳ nói chung, không thể so sánh được với thu Hà Nội của năm xưa. Mùa thu là mùa của êm dịu, khí trời tươi mát, tuy nhiên cũng là mùa chuyển tiếp từ mùa nắng hạ nóng gắt, qua mùa đông lạnh lẽo.

    (27/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 3
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 3

    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15 - Phần 3

    Tôi yêu lắm cái linh hồn, Gọi là tinh thần luân lý giáo khoa thư Vất vưởng theo bước chân người Việt Nam tị nạn Tôi luôn tìm chỗ nương náu Cho cái linh hồn mờ phai ấy Trong xã hội nhiễu nhương này Hôm qua, hôm nay, ngày mai, và nhiều ngày sau nữa. Tôi đã bắt đầu và tiếp tục cuộc hành trình. Vào nước Mỹ thênh thang

    Tôi đi, Nương theo linh hồn luân lí giáo khoa thư của Việt Nam nhỏ bé Đi mà nhớ mãi, Tiếng đàn của một ông giáo,

    Ôi tiếng Phong Cầm của Bố Tôi.
    (23/12/2011)
Tin tức
  • Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT
    Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT

    CHƯƠNG TRÌNH GIỚI THIỆU

    TUYỂN TẬP ĐỒNG TÂM SỐ 12 & WEB SITE

    www.VanDan-DongTam.org TẠI HOUSTON TEXAS VÀO NGÀY 15 THÁNG 05 NĂM 2011

    Từ mấy tuần trước ngày Giới Thiệu Sách (GTS), tôi đã nhận được thông báo qua email, và qua diễn đàn của Văn Đàn Đồng Tâm rằng: vào ngày 15- 5- 2011, Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT) sẽ có buổi giới thiệu Tuyển Tập Đồng Tâm số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, và chính thức ra mắt web site vandan-dongtam.org, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi 8282 đường Bellaire, khu Southwest Houston. 

     

    (29/05/2011)
  • Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
    Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
      Doãn Quốc Vinh Dùng Nghệ Thuật Để ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’

     

    Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ - cố Vấn VĐĐT, đã sáng tác và thực hiện những tập thơ  được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang,  tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 4 tập thơ :  Lục Bát Tùy Bút ,  Lục Bát Đôi Bờ, Lục Bát Ru Hời  và  Lục Bát Tình của Doãn Quốc Vinh DOÃN QUỐC VINH với đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim, California.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) xin hân hạnh giới thiệu và thân mời quý văn thi hữu và đồng hương tham gia ủng hộ thật đông đảo.

     

     

    * * * * *

    Từ “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” Gần đây, tôi được dịp đọc lại “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trên trang SángTạo.org. Đọc công khai, đọc bao nhiêu lần tùy thích. Càng đọc, càng thích. Càng đọc, càng u ẩn niềm quê. Càng đọc, càng muốn khóc cho cái điêu linh của quê hương, dân tộc, cho cái nhục nhằn của sinh linh. Càng đọc, càng muốn đi tìm tác giả, để cám ơn ông đã cho tôi được sống với đất nước trong một giai đoạn trước khi tôi chào đời. Càng đọc, càng nhớ lại cái lần đầu tiên gặp Doãn Quốc Sỹ trong cái tủ kính khóa chặt của ông Ngoại tôi ở một vùng quê miền Tây Nam đất Việt. Tôi đọc lén. Lén cái chính quyền sau 1975. Lén cả ông Ngoại tôi, vì sách quý, con nít biết gì mà động vào. Tuy sau này tôi mới biết, ông tôi không hề cấm con cháu đọc sách của ông, dù ông quý sách hơn cả vàng (nên tôi oai hùng mượn ông quyển “Ba Sinh Hương Lửa” và vác về nhà đọc một cách hết sức chính quy). “Ngàn vàng dễ kiếm, lời tốt khó tìm.” Quý là đúng. Và quý nhất là cái thông điệp mà nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã trân trọng gửi gắm cho độc giả ở cuối truyện. Với cái ngôn ngữ giản dị và một tâm hồn thuần Nho, ông nói lên một sự thật và một thực tế mấu chốt của thời đại chúng ta. “Ở thế giới thực dân tư bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” “Tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” Tình thương yêu ấy, nó có mùi vị gì, màu sắc ra sao, kích cỡ thế nào, hình dáng làm sao? Theo tôi, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã xuất sắc trong việc tề gia, để câu trả lời nằm chính ngay trong huyết mạch lưu truyền của ông. Đến “Niêu Cơm Quê Nhà” Con nhà tông, nên chắc chắn phải giống lông giống cánh. Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, đã được bú mớm cái dòng sữa của mẹ và cái dòng tư tưởng của cha từ trong nôi. Doãn Quốc Vinh được biết đến nhiều như một họa sỹ, qua các cuộc triển lãm “Ao Nhà Lung Linh” hay “Chuyện Trò Với Lá,” vừa xuất thần trong bản sắc dân tộc, vừa bật tung những sáng tạo hiện đại. Nhưng Doãn Quốc Vinh cũng dính líu với chữ nghĩa, có lẽ vì cái duyên nghiệp viết lách còn quá nồng nàn giữa hai thế hệ của Doãn gia. Tôi đặc biệt quan tâm đến “Niêu Cơm Quê Nhà,” một bài thơ Doãn Quốc Vinh viết tặng cho người thân ở xa, khi anh còn ở tại Sài Gòn, vào năm 2005.

    Bài thơ dung dị và dân dã như cái niêu cơm, như ý niệm quê nhà, như mối tình thôn quê thuần nông nghiệp. Bài thơ được ‘nấu’ như thế này: “…lạy trời , lạy đất , lạy mây lạy cho lúa chín trĩu đầy hạt thơm lạy cho xó bếp nhiều rơm để tôi thổi chín niêu cơm quê nhà mời anh , mời chị ở xa ghé chơi … xơi chén cơm cà với tôi bát canh bông bí ngọt chồi vại dưa , khoanh cá, khúc dồi … chân quê dăm năm thu vén bộn bề này anh, này chị đường về nhớ chăng?” Doãn Quốc Vinh đã thể hiện “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” một cách thật cụ thể trong bài thơ này. Anh cầu khẩn cho có được những điều kiện cần thiết để nấu một bữa cơm nhà quê, để mời những anh những chị đang sống xa quê, vài năm “thu vén bộn bề” một lần, về lại. Anh mong họ được hưởng lại cái không gian quê nhà ngay trên đầu lưỡi. Không dưng anh làm cho tôi thèm mùi khói rơm quá! Nhưng cái sự chuyên cẩn trong từng cái lạy, cái chọn món, cái ‘thổi’ cơm (rất dân dã, và hầu như chỉ còn ở thôn quê Việt Nam vì sự bành trướng của bếp ga, bếp điện) – tất cả bày ra một mâm cỗ của yêu thương, thông cảm, chia sớt. Người-ở-lại Doãn Quốc Vinh đã “chân thành” và cũng rất “rộng rãi” với tâm sức của mình khi đi ngược dòng thời gian, thổi một “niêu cơm quê nhà” để làm ấm lòng người đi xa. Cho đến khi chính anh cũng là người đang đi xa, thì anh lại tiếp tục ‘thổi’ cơm để gửi về cho những đồng bào ở lại, nhất là những đồng bào nghèo khó. Dùng hội họa để “Cho Em Niềm Hy Vọng 9” Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ cơm cho những người nghèo khổ trên quê hương bằng cách nào? Anh không lạy trời lạy mây nữa. Anh vẽ. Anh đã chọn những bức tranh ưng ý của mình để bán gây quỹ cho SAP-VN tại đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim. Nếu tình người bàng bạc trong văn chương chữ nghĩa của cha con họ Doãn, thì tình người là một nếp sống hằng ngày trong gia đình này. Doãn gia đã cưu mang bao người cơ bần, ngay giữa lúc họ Doãn cũng phải đối diện với khó khăn thời chiến. Họ Doãn đã dùng cái “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” để sống và làm chủ đạo cho dòng tộc mình. Cho nên việc họa sĩ Doãn Quốc Vinh đưa cái “tình thương yêu rộng rãi” ấy đến góp tay với SAP-VN để phục vụ đồng bào trong cảnh khốn cùng, âu chỉ là một việc tất yếu. SAP-VN, với tất cả những thành quả trong hoạt động từ thiện gần hai thập niên qua, đã đón nhận sự giúp đỡ hết mình của biết bao nhân tài và mạnh thường quân. Nhưng sự giúp đỡ của Doãn Quốc Vinh lần này làm cho tôi xúc động theo lũy thừa đôi, có lẽ vì anh diễn đạt cái ‘tình quê’ một cách tự nhiên và sâu sắc, nhất là qua những bài thơ và phát biểu của anh. Trong thời gian chuẩn bị cho ngày gây quỹ, thân mẫu của anh, bà Doãn Quốc Sỹ, nhũ danh Hoàng Thị Thảo, đã hấp hối và qua đời đầu tháng Chín tại Houston, Texas. Có lẽ bà là một trong những người đàn bà hạnh phúc nhất, vì đã có một người phối ngẫu giàu lòng nhân ái như vị văn tài Doãn Quốc Sỹ, đã cùng bà nuôi nấng những người con có tấm lòng tha thiết với quê hương và với đồng bào như Doãn Quốc Vinh. Kính mời quý đồng hương cùng đến, thưởng lãm những “niêu cơm quê nhà” mà Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ bằng óc sáng tạo và nét cọ tài ba, để cùng SAP-VN thắp sáng tình quê trên những vùng nhân sinh nghèo khổ của quê hương. Nếu không có quý vị, “niêu cơm quê nhà” của Doãn Quốc Vinh sẽ không “chín” nổi vì thiếu lửa. Quý đồng hương có thể mua vé trước tại Nhà Sách Tự Lực (714 531 5290, 714 531 5290), hoặc Tiệm Kính Optometry (714 418 0190, 714 418 0190), hay qua email tại (sapvntix@gmail.com). Nếu có thắc mắc về chương trình gây quỹ, xin quý vị gọi số điện thoại 714-901-1997, 714-901-1997. Xin hẹn cùng ‘ăn cơm quê nhà’ với quý vị lúc 4:30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011 tại Nhà hàng Mon Amour (Mon Cheri 2 cũ), tọa lạc tại 3150 W. Lincoln Ave, #134, Anaheim, CA 92801.

     

    Trangđài Glassey-Trầnguyễn

     

     

     

    (10/10/2011)
  • Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng
    Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng

     

                               

     

    Thư Mời

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) trân trọng kính mời quý văn nghệ sĩ và đồng hương thân hữu, vui lòng dành chút thời gian đến tham dự buổi liên hoan văn nghệ giới thiệu tuyển tập VDDT số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi, địa chỉ 8282 Bellaire Blvd. Houston TX 77072, vào chiều Chúa nhật, ngày 15 tháng 05 năm 2011, từ 4PM đến 9PM.

     

    Chương trình gồm nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, hấp dẫn do nhiều nghệ sĩ tham gia trình diễn (Hoàng Kim Khánh, Sonny Phan, Lệ Ngọc, Nguyệt Khánh, J. Ngọc, Nhật Hạnh, Phan Thanh, v.v…)

     

    Vào Cửa Tự Do. Phục vụ Ẩm Thực Miễn Phí.

    Tặng Quà Lưu Niệm. Dạ Vũ Vui Nhộn.

     

    Sự hiện diện của quý vị là một vinh dự và niềm khích lệ lớn lao đối với VDDT.

    Trân trọng kính mời

     

    Thay mặt Ban Tổ Chức

     

    Cù Hoà Phong

    281-975-9782

     

    P.S. Vì chỗ ngồi có giới hạn, xin quý vị vui lòng sớm ghi danh tham dự qua email vandandongtam@gmail.com hay điện thoại cho Tạ Xuân Thạc (281-370-0233), Cù Hoà Phong (281-975-9782) để nhận vé mời.

    Xin chân thành cám ơn.

     

     

                            

     

     

     

     

     

     

    (12/05/2011)
Quảng cáo
Nguyen Phi Loi
Mark D.Le M.D.,P.A
Tofu
KS Bellaire
Nhan Hien
drmainguyen
TRỢ CẤP TÀN TẬT – SSI
Nguyen Quoc Dung
PharmTrustPharmacy
nicolasdetal
Northside Domestic & Import