Chuyên mục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 1
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 2
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 3
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 10
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 12
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 16
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Phần 21
Phần 22
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 17
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 18
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 19
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Sách kỷ niệm
Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Kỷ Niệm Về Nhạc Sĩ Anh Bằng
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Phần 1
Phần 2
Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Văn học
Văn
Thơ
Nghệ thuật
3 videos clips của buổi TalkShow trên đài truyền hình BYN
Âm nhạc
Âm nhạc
Archive
Music Online

There seems to be an error with the player !

Hình ảnh
Video Clip
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 7
Chủ nhật, 04 Tháng 12 2011 14:11
Mục Lục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 7
Phân Ưu
Tất cả các trang


Một Thời Để Nhớ

Dương Hà & Hoàng Nam

Show Asia 53 chủ đề “Bốn Mùa - Màu Sắc Của Tình Yêu” được tổ chức tại sân khấu Long Beach Terrace Theater, hai năm sau show "Asia 59: Bốn Mùa 2 - Một Thời Để Nhớ" được trình diễn tại La Mirada for Performance Arts Center. Chính đề tựa của show đã nói lên chuyện tình yêu qua bốn mùa, và với một thời để nhớ mãi trong tâm khảm.
Phần mở đầu với liên khúc mưa gồm những bài nhạc mưa Mùa Thu Trong Mưa, Cơn Mưa Phùn và Tiếng Mưa Đêm. Âm thanh mưa rơi và khung cảnh màu sắc mang ta về kỷ niệm nào đó. Mưa rơi ban đêm cho không gian dịu mát cho thiên nhiên bừng tỉnh, mưa cho tình yêu thêm nhung nhớ, mưa còn rơi mãi trên phím đàn. Có phải mưa còn rơi mãi những tiếng buồn thở than? và đã lâu rồi nụ cười vắng trên môi? Lời ca khúc quyện cả không gian trên khấu của mưa rơi và mưa rơi:

"Còn rơi mãi nhớ thương ai
Ướt bờ mi em dài
Mưa rơi mưa rơi
Còn làm mưa mãi trong đời
Người đã xa vắng rồi
Con tim cô đơn
Còn ôm ấp những hẹn thề
Ướt chiều mưa em về
Chôn đi bao nhiêu
Kỷ niệm xưa mãi tôn thờ
Cuộc tình còn ước mơ"


Đức Huy sáng tác nhiều nhạc về mưa, mưa là đề tài trử tình, gần gủi với tình yêu.

"Từng giọt mưa, từng giọt buồn
Ngoài sân vắng buổi chiều tối dần
Từng giọt mưa như hờn giận
Mà người có biết chăng
Từng giọt mưa, từng giọt buồn
Như dĩ vãng của cuộc tình mình
Còn rơi mãi không bờ bến
Trong tiếng mưa đêm"

Màn đầu tiên này đã qui tụ đến 9 ca sĩ gồm Thiên Kim, Lâm Thúy Vân, Lâm Nhật Tiến, Như Quỳnh, Nguyễn Hồng Nhung, Quốc Khanh, Phillip Huy, Ánh Minh và Đoàn Phi.
Bốn mùa thì mùa xuân được ghi nhân qua nhạc phẩm Mùa Xuân Đầu Tiên của Văn Cao. Bản nhạc theo thể điệu Valse nhẹ nhàng, vui tươi êm ái như khi tiết trời báo hiệu một chu kỳ thiên nhiên mới bắt đầu. Mùa xuân dặt dìu theo chim én lượn về trên bầu trời mênh mang, tâm tư mơ màng. Nghe cảm nhận mùa xuân về thật tươi thắm, hân hoan và thanh thản:

"Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
Một trưa nắng vui cho bao tâm hồn"

Như Văn Cao cho lời:
"Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người"

Mùa xuân mới trong nỗi nhớ, trong âm nhạc Văn Cao. Muôn sắc xuân về rực rỡ trên quê hương.Tâm tư yêu người, thương người như cỏ cây đan cành quấn quít với gió xuân, sự thanh bình tràn ngập niềm hân hoan vào lòng người.


Nhạc Văn Cao trong liên khúc chung với bài Chiều Tím của nhạc sĩ Đan Thọ. Lời nhạc do thi sĩ Đinh Hùng soạn:

"Chiều tím chiều nhớ thương ai, người em tóc dài
Sầu trên phím đàn, tình vương không gian
Mây bay quan san, có hay?

Đàn nhớ từng cánh hoa bay, vầng trăng viễn hoài
Màu xanh ước thề, dòng sông trôi đi
Lúc chia tay còn nhớ chăng?"

Nhạc sĩ Đan Thọ sinh năm 1924 tại Nam Ðịnh. Về nhạc cụ sở trường của ông là violon và saxophone tenor. Năm 1936 đến 1942 ông theo học chữ và nhạc tại trường Thày Dòng Saint Thomas d’Aquin tại Nam Ðịnh. Thầy dạy violon của ông là Frère Maurice. Từ năm 1942 đến 1945 ông học hòa âm và sáng tác với giáo sư Tạ Phước cùng Vũ Ðình Dự. Đến năm 1945, ông chơi đàn violon tại phòng trà Thiên Thai của nhạc sĩ Hoàng Trọng tại Nam Ðịnh.
Vào năm 1948 đến 1954 ông gia nhập Ban Quân Nhạc Ðệ Tam Quân Khu Hà Nội cùng với Nguyễn Túc, Nhật Bằng, Văn Phụng, Nguyễn Khắc Cung, Nguyễn Cầu, và Nguyễn Hiền. Ngoài ra ông học môn kèn saxophone với quân nhạc trưởng Schmetzler và nhạc sĩ Phi luật tân Mano Umali tại Saigon. Ông đã cộng tác trình diễn tại các vũ trường và phòng trà ở Hà Nội với Nguyễn Túc.
Khi vào Sài gòn ông sáng tác bài Chiều Tím với lời của Ðinh Hùng, Xa Quê Hương (chung với Xuân Tiên), Mimosa Thôi Nở (phổ thơ Nhất Tuấn), bài Dương Cầm (theo ý thơ Mùi Quý Bồng).
Vào năm 2005, khi bão Katrina thổi qua New Orleans, nhà ông bị bão tàn phá, và báu vật kỷ niệm của đời ông là cây đàn vĩ cầm yêu quý bị cơn bão quái ác này làm hư hại, cũng như cây kèn tenor saxo mạ vàng Selmer mà ông vô cùng trân quý, những kỷ vật mà ông lưu giữ gần 50 năm qua trong cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc. Hiện nay ông cư ngụ tại Houston, Texas.

Một liên khúc khác gồm 3 nhạc phẩm của Khánh Băng như Nếu Một Ngày, Tiếng Mưa Rơi và Trăng Thề đem tâm hồn khách thưởng ngoạn về thập niên 60 ở quê nhà.
"Nhìn mưa rơi nhuộm tím bầu trời
Gió đêm vi vu muôn ngàn lời
Mấy ai yêu thương nhau trọn đời
Gió ơi!

Hạt mưa rơi lạnh buốt vào người
Xót xa dâng lên môi nụ cười
Tiếc thay giấc mơ xưa tuyệt vời
Gió ơi!"

Nhạc sĩ Khánh Băng tên thật là Phạm Văn Minh, sinh năm 1935 tại Thắng Tam, Vũng Tàu. Tên Khánh Băng được ghép bởi tên của hai cô bạn học từ thời tiểu học của ông, một người là Khanh còn người kia tên Băng, ông thêm dấu "sắc" thành Khánh Băng.
Năm 1949, Khánh Băng lên Sài Gòn học trung học ở trường Huỳnh Khương Ninh, thuộc vùng Đa Kao. Cùng một vài người bạn như Vân Hùng, Tùng Lâm,... ông lập một ban nhạc cùng nhau thường xuyên tập dượt và chơi miễn phí cho các đám cưới.
Khánh Băng thực sự khởi đầu sự nghiệp ca nhạc năm 1954, được sự hướng dẫn và giúp đỡ của nhạc sĩ Võ Đức Thu, với cây đàn mandoline Khánh Băng thi đậu vào làm nhạc công ở Đài Phát thanh Sài Gòn. Sau đó, được Tùng Lâm tiến cử với nghệ sĩ Trần Văn Trạch, ông chơi đàn ở đoàn Sầm Giang và rồi ở Đài phát thanh Pháp Á. Khánh Băng được coi là người Việt Nam đầu tiên sử dụng đàn guitar điện trên sân khấu, trong thập niên 1960.
Khánh Băng viết nhạc rất sớm, từ những năm học tiểu học, bản thân ông cũng không nhớ bản nhạc đầu tay của mình. Bài hát đầu tiên của ông được phát thanh là Nụ Cười Thơ Ngây, do 2 ca sĩ Minh Trang và Anh Ngọc song ca trên Đài Phát thanh Sài Gòn vào năm 1955. Khánh Băng bắt đầu thành danh với nhạc phẩm "Vọng Ngày Xanh" được viết năm 1956. Nhạc phẩm đó được nhà văn nữ nổi tiếng Françoise Sagan viết lời Pháp và cũng nhờ bài "Vọng Ngày Xanh", ông được Hội Tác quyền Thế giới mời gia nhập. Vọng Ngày Xanh được nhiều ca sĩ như Minh Trang, Lệ Thu, Hùng Cường,... trình bày, trong đó thành công hơn cả phải kể đến tiếng hát của danh ca Thái Thanh qua những ca khúc của ông.
Khánh Băng viết rất nhiều ca khúc có tiết tấu nhanh và sôi động, thường được gọi là thể loại nhạc kích động. Những bài hát như Sầu Đông, Có Nhớ Đêm Nào hay Tiếng Mưa Rơi do ông sáng tác vào khoảng năm 1962 được coi là những bài nhạc trẻ kích động đầu tiên ở Việt Nam. Sầu Đông, một trong hai nhạc phẩm nổi tiếng nhất của Khánh Băng cùng với bài Vọng Ngày Xanh, còn được viết thêm lời Pháp ngữ. Nó cũng có thêm lời tiếng Anh ngữ do một người khác viết.
Với The Summer Knows là nhạc phim (theme song) của phim Mùa Hè 42, do các nhạc sĩ Michel Jean Legrand, Alan Bergman, và Marilyn Bergman sáng tác. Khi mùa hè được nhân cách hóa thành một cô gái, ngày hè dài hơn bởi nàng (mùa hè) bảo mặt trăng hãy chờ đợi, bảo mặt trời hãy kéo dài hơn thời gian, nàng âu yếm bầu trời thêm dài bất tận, sưởi ấm bãi cát biển, nàng đùa giỡn với tất cả thế giới hè xung quanh mình... Phần nhạc nền cho phim này đã mang lại cho nhóm Michel Legrand một giải Oscar. Ca khúc nổi tiếng này được nhạc sĩ Nguyễn Ánh Chín Việt hóa lời nhạc, và được trình bày bởi ca sĩ Nguyễn Hồng Nhung.
Nhắc lại kỷ niệm xưa của những năm 60 và 70 tại quê nhà, đứng trước nguy cơ nhạc ngoại quốc xâm nhập mãnh liệt vào trong xứ, MC Nam Lộc cũng đã tâm sự là anh và anh Trường Kỳ cùng một số bạn hữu nhận chân ra điều này và để dung hòa nhu cầu, các anh đã quyết định dùng chính những dòng nhạc ngoại quốc mà giới trẻ yêu thích để chuyển dịch hoặc soạn lời Việt dựa theo tình cảm, hay theo sự rung động trong hoàn cảnh đời sống của người Việt, của văn hóa Việt với mục đích từ từ chuyển hướng nhu cầu nghe nhạc về với những tình tự dân tộc. Thật vậy khi ta mới nghe các nhạc phẩm như Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu hay như bài Chỉ Còn Là Giấc Mơ Qua, ít ai nghĩ nó là nhạc Mỹ, vì ta mải mê nghe về kỷ niệm về đón người yêu ở sân trường Trưng Vương, Gia Long, hay Nguyễn Bá Tòng,... Nếu sự chuyển hướng âm nhạc đúng với nhu cầu sẽ là một ích lợi thiết thực của sự chấp nhận cái hay của xứ người biến thành cái lợi của xứ ta.
Trong Asia 59 có những bài tình ca nhạc ngoại quốc do 2 ca sĩ trình bày là Thanh Lan và Paolo. Bốn bài hát Les Amoureux Qui Passent (Một Thời Để Yêu, Nam Lộc viết lời Việt), Je Sais (Cuộc Tình Tàn do Phạm Duy) và Les Temps de L'amour (Mùa Tình Yêu, do Trường Kỳ). Bài nhạc Anh ngữ là Delidah. Tiết mục được trình diễn như Broadway show có sự phụ diễn các vũ công của Quốc Dương góp phần.
Trong phong trào nhạc trẻ tại Việt Nam trước năm 75 thì Paolo là một trong những gương mặt nổi bật. Anh đóng góp tiếng ca những nhạc phẩm Pháp và Mỹ trong những thập niên 60 và 70. Ca sĩ Paolo tên thật là Đào Thiệu Doãn, khởi nghiệp trong lãnh vực nhạc trẻ từ những năm đầu của thập niên 60s với tên Thanh Tuấn. Với bộ quần áo da mầu đen như Elvis Presley thuở nào, Thanh Tuấn đã trở thành một trong những nam ca sĩ tiên phong của nền nhạc trẻ Việt Nam trong thời gian cộng tác với ban nhạc The Black Caps. Paolo thuở ấy rất được chú ý qua phần trình diễn sống động với những nhạc phẩm lời Pháp thịnh hành trong thời kỳ phong trào trẻ đang lên cao tại Việt Nam, nhất là tại Sài Gòn. Thời ấy những khuôn mặt ca sĩ xứ ngoài được ái mộ như: Cliff Richard, Elvis Presley, Paul Anka, Bobby Vee, nhóm The Shadows, The Ventures, The Beatles, Johnny Halliday, The Rolling Stones…
Cho đến khi Paolo bước vào lãnh vực phòng trà ca nhạc và vũ trường thì anh đã tạo cho mình một ngôi vị vững vàng, anh có phong cách trình diễn riêng, qua làn hơi dài nồng ấm, đã gây được chú ý với những nhạc phẩm lời Anh, đặc biệt là những nhạc phẩm được trình bày bởi nam danh ca người Anh là Tom Jones. Phải kể là các bài ca như The Green Green Grass of Home, She's A Lady,... và Delilah mà anh ca thật xuất sắc Asia 59 đề cập về những bài tình ca đáng nhớ của Lam Phương, đan cử các bài Duyên Kiếp, Trăm Nhớ Ngàn Thương và Thu Sầu. Những nhạc phẩm mà Lam Phương viết riêng cho từng kịch bản chuyện tình yêu của Ban Kịch Sống của kịch sĩ Túy Hồng. "Duyên Kiếp" một trong hằng trăm tình ca của Lam Phương, nói về mối tình trắc trở khi mộng tình không thành. Một nhạc phẩm khá thịnh hành và quen thuộc với quần chúng.
"Em ơi nếu mộng không thành thì sao
Non cao đất rộng biết đâu mà tìm
Đường đời mịt mời vạn nẻo về đâu
Mong chờ duyên kiếp đưa lối bác cầu

Em ơi nhắc lại phút xưa gặp nhau
Trên đê vắng người lúc tan chợ chiều
Ngại ngùng mỗi lần anh đến tìm em
Má em ưng hồng vì quá thẹn thùng"

Khi nhắc đến Lam Phương, phải nói anh là nhạc sĩ đã dùng âm nhạc của mình để thay mặt cho hàng triệu người miền Nam nói lên cái tình tự quê hương, tình nghĩa đồng bào khi miền Nam dang tay tiếp nhận 2 triệu người từ miền Bắc di cư trốn chạy nạn Cộng Sản, sau hiệp định Genève chia đôi đất nước qua vỹ tuyến 17, bài Chuyến Đò Vĩ Tuyến, sáng tác năm 1954. Đó là cái đáng yêu của nhạc Lam Phương.
Trung Tâm Asia thường mời nhiều người khách đến giúp vui qua vai trò giới thiệu chương trình như Leyna Nguyễn, Dương Nguyệt Ánh, Thùy Dương,... và mới nhất là Bảo Châu. Điều khiển chương trình trong show hát Asia 59 “Một Thời Để Nhớ” gồm: Nam Lộc, Việt Dzũng, Thùy Dương và Bảo Châu. Tưởng cũng nên ghi nhận Bảo Châu là một khuôn mặt khá quen thuộc với đài truyền hình SBTN qua vai trò xướng ngôn viên trong ban tin tức.
Một Thời Để Nhớ là chủ đề ca ngợi tình yêu, mà trong đó có tình bao la của mẹ già quá vãng. Ca khúc "Thăm Mộ Mẹ" của Anh Bằng, phổ thơ Lê Duy Phương, qua tiếng ca Như Quỳnh, do Sỹ Đan hòa âm. Nghe như chút gì u buồn của tình mẫu tử:

"Con qỳ quanh mộ Mẹ
Nghĩa trang buồn hắt hiu
Gió lạnh ru rặng liễu
Mẹ bây giờ ở đâu"

Tương tự như Asia 53, theo chu kỳ trong năm và tiết trời chia ra làm bốn mùa, Xuân, Hạ Thu, Đông. Từng mùa mà cảnh trí sân khấu được đổi thay. Mùa xuân hoan ca như xuân của Văn Cao. Mùa hè tuy nóng nhưng có cái vui tươi trong nắng hạ, trong không khí rộn ràng của những ngày nghỉ dài như Hè 42. Mùa thu tiết trời thay đổi, đang từ nắng hạ chuyển biến làm khí trời dịu mát, có lúc se lạnh, có mưa rơi như Mùa Thu Trong Mưa, hoặc Thu Sầu làm cho cây đang xanh tươi hoá ra héo úa vàng, rồi rụng rơi tơi tả, như mùa thu mang nét u buồn. Mùa Đông đến khi cây trút lá, cành trơ trọi hay tuyết phủ. Như khúc ca Sương Lạnh Chiều Đông qua tiếng hát Băng Tâm. Bằng những cảnh vật biến đổi theo mùa ấy mà các nhà thơ, nhà văn cũng như các nhạc sĩ cảm tác thay đổi đặc tính theo mùa. Theo chủ đề tình ca Một Thời Để Nhớ với nhiều bài tình ca, với 48 tiết mục, và 50 ca sĩ. Người ta được nghe những âm thanh từ Văn Cao, Đan Thọ, Mạnh Phát, Y Vân, Anh Bằng, Khánh Băng, Nguyễn Ánh Chín, Trường Sa, Huỳnh Anh, Đức Huy, Trúc Hồ, Từ Công Phụng, Lam Phương,... Các nhạc phẩm được hòa âm theo thanh âm mới bởi nhóm nhạc sĩ Asia như Trúc Sinh, Vũ Tuấn Đức, Sỹ Đan, Trúc Hồ và Ngọc Lễ.

oOo

Sau khi ra DVD Asia 59 thì Trung Tâm Asia chuẩn bị cho ra kế tiếp Asia 60, với chủ đề Mừng Xuân Kỷ Sửu 2009, hứa hẹn nhiều vui tươi như món quà mừng xuân.
Lời nhắn chân tình như muôn thuở xin ủng hộ băng gốc.

Dương Hà & Hoàng Nam

 



 
Gửi góp ý
Tiêu đề
Nội dung

Những tin mới hơn

  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 1
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 1

    Tuyển Tập 9  

    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 16
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 16

    Thơ Doãn Quốc Vinh Doãn Quốc Vinh hâu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ, cố Vấn VĐĐT. Những tập thơ DQV sáng tác đã được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang, tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 3 tập thơ : Lục Bát Tùy Bút , Lục Bát Đôi Bờ và Thơ Tình của  Doãn Quốc Vinh

    (05/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 15
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 15

    Title: Em Sài Gòn Artist: Quang Minh Composer: Minh Tuấn Harmonist: Quang Đạt Lyricist: N&L: Nguyên Phan Minh Tuấn

     

    (05/12/2011)
  • TTVDDT 19 - Phần 18
    TTVDDT 19 - Phần 18

     

    Liêu Trai Chí Dị

     

    Giáo sư Đàm Quang Hưng: Giáo sư Trung học Trưng Vương, Hồ Ngọc Cẩn của các trường tư như Phan Sào Nam, Văn Học, Hưng Đạo, Trường Sơn và nhiều trường khác. Nguyên là Trưởng khoa Toán trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.

    GS Đàm Quang Hưng còn là một học giả bậc nhất về môn Hán Nôm nên chính là một dịch giả tuyệt vời đã dịch tác phẩm LIÊU TRAI CHÍ DỊ.

    Bộ sách này : Gồm 8 quyển trên 4000 trang.

    Tuy tuổi đời GS đã cao, nhưng sức khoẻ của giáo sư vẫn còn tráng kiện nên hiện nay Giáo Sư Hưng vẫn còn là Giáo Sư Toán học, giảng dạy tại Đại Học Cộng Đồng tại Houston Texas.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm đã xin được phép chính thức đăng lại một số bài viết trích trong pho sách LIÊU TRAI CHÍ DỊ quý giá này.

     

    Trân trọng giới thiệu với đọc giả xa gần khắp nơi trên thế giới. Và cũng xin chân thành cám ơn GS Đàm Quang Hưng đã có nhã ý và ưu ái đối với Văn Đàn Đồng Tâm.

     

    Doãn Quốc Sỹ

     

    LIÊU TRAI CHÍ DỊ  - Gs Đàm Quang Hưng -

     

    KÝ SINH

     

    Phụ ký chung tình, tử cánh si

    Mộng hồn điên đảo hệ tương tư

    Họa bình khai xứ song điêu xạ

    Đắc ý ngâm thành khước phiến thi

     

     

                                    

     

    Vương Ký Sinh         

    Huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc, có nho sinh Vương Ký Sinh, tên chữ Vương Tôn, là con trai Vương Quế Am với Mạnh Vân Nương.

    Trước kia, khi Vân Nương hoài thai, ngỡ một câu chuyện chồng đặt ra để  nói đùa mình là thực, đã nhảy xuống sông tự tử, nhưng thoát chết vì được ông lão họ Mạc vớt lên, đem về nhà nuôi. Trong khi Quế Am tin là vợ mình đã chết thì Vân Nương sanh con, đặt tên là Ký Sinh.

    Năm sau, Quế Am tình cờ gặp Ký Sinh nhưng không biết là con mình. Vì Ký Sinh có linh tính nhận ra cha nên gia đình được đoàn tụ và Ký Sinh được cha mẹ nuông chiều. Càng lớn, Ký Sinh càng đẹp trai, thông tuệ. Được cha cho đi học, Ký Sinh được thầy khen là thông minh xuất chúng. Năm lên 8, Ký Sinh đã biết làm văn. Năm 14 tuổi, Ký Sinh được nhận vào học ở trường huyện, nổi tiếng danh sĩ trong vùng. Tuy nhiên, Ký Sinh lại có tính quá đa nghi.

    Quế Am có người em gái, tên Nhị Nương, lấy chồng là nho sĩ Trịnh Tử Kiều, tính rất nghiêm cẩn, sanh một gái, đặt tên là Khuê Tú, rất mực kiều di­ễm và thông tuệ. Tuy là anh em cô cậu, lại ở gần nhà nhau, nhưng Ký Sinh với Khuê Tú chưa được gặp nhau lần nào.

    Năm ấy, nhân dịp tết Nguyên Đán, Ký Sinh được cha mẹ cho theo sang nhà Cô chơi. Gặp Khuê Tú lần đầu, Ký Sinh đã thầm yêu trộm nhớ, bỏ ăn bỏ ngủ, rồi ốm tương tư. Không hiểu tại sao con mình lại tiều tụy như thế, vợ chồng Quế Am hỏi thẳng con. Ký Sinh cứ tình thực mà thưa. Quế Am bèn nhờ bà mối họ Quách, tới nhà Tử Kiều hỏi Khuê Tú cho con.

    Quách bà tới thưa chuyện với Tử Kiều. Tử Kiều từ chối, nói rằng con cô con cậu không được lấy nhau. Nghe tin, Ký Sinh thất vọng lắm, bệnh tình càng trầm  trọng. Vân Nương rất lo cho con, nhưng không biết làm thế nào, chỉ sai bà vú tới xin với Nhị Nương cho Khuê Tú sang thăm Ký Sinh một lần. Nhị Nương nói với chồng, Tử Kiều nổi giận, mắng chửi Ký Sinh ầm ĩ, trách móc vợ chồng Quế Am không biết dạy con, rồi tuyệt giao với gia đình Quế Am. Nghe chuyện, vợ chồng Quế Am cũng đành im lặng, chỉ biết khuyên giải, chăm sóc thuốc thang cho con.

    Ba tháng sau, nhân tiết Thanh Minh, Ký Sinh thấy trong người sảng khoái, bệnh tình thuyên giảm, bèn xin cha mẹ cho đi dự hội Đạp Thanh. Cha mẹ thuận cho đi.

    Trong huyện, có gia đình họ Trương, dòng dõi vọng tộc. Ông bà Trương có 5 con gái, đặt tên theo thứ tự trước sau, từ Nhất Khả tới Ngũ Khả, người nào cũng đẹp, mỗi người một vẻ, nhưng ai cũng công nhận Ngũ Khả có nhan sắc phi thường, đẹp hơn cả 4 chị. Vương tôn công tử trong vùng đua nhau nhờ người mối lái, xin cưới Ngũ Khả, nhưng khi ông bà Trương hỏi ý thì Ngũ Khả đều từ chối, không ưng đám nào.

    Hôm ấy, nhân tiết Thanh Minh, ông bà Trương sai gia nhân giong xe cho Ngũ Khả đi dự hội Đạp Thanh, cho bà vú theo hầu. Dọc đường, thấy một nho sinh đẹp trai, cũng đi dự hội, Ngũ Khả vén rèm lên coi. Thấy thế, bà vú nói cho Ngũ Khả biết rằng nho sinh ấy là danh sĩ Vương Ký Sinh. Về nhà, bà vú thuật lại với Truơng Bà chuyện Ngũ Khả chăm chú nhìn Ký Sinh. Trương bà bèn dò ý con. Thấy Ngũ Khả lặng im, Trương bà hiểu con đã thuận, liền nói với chồng. Nghe xong, Trương ông bèn nhờ bà mối họ Vu, tới nhà Quế Am làm mối cho con.

    Hôm sau, Vu bà tới nhà Quế Am, xin được gặp chủ nhân. Thấy gia nhân canh cổng vào trình, Vân Nương vội sai ra mời khách vào sảnh đường.

    Gặp Vân Nương, Vu bà niềm nở chào kính. Vân Nương cũng niềm nở đáp lễ. Trong lúc trò chuyện, Vu bà chợt hỏi:”Công tử nhà ta vẫn mạnh khỏe chứ?” Vân Nương đáp:”Cháu bị bệnh đã từ lâu, gia đình chăm sóc thuốc thang, nhưng bệnh tình chỉ thuyên giảm chứ chưa khỏi hẳn, hiện vẫn còn nằm dưỡng bệnh trong phòng!” Vu bà cười, nói:”Lão thân biết một thầy thuốc có thể chữa được bệnh cho công tử!” Vân Nương hỏi:”Ai thế?” Vu bà cười, đáp:”Một tiểu thư!” Rồi Vu bà thuật cho Vân Nương nghe chuyện họ Trương nhờ mình tới làm mối Ngũ Khả cho Ký Sinh. Vân Nương hỏi:”Trương Ngũ tiểu thư có đẹp lắm không?” Vu bà ngạc nhiên đáp:”Ủa! Thế ra phu nhân chưa nghe thấy ai ca tụng nhan sắc Trương Ngũ tiểu thư hay sao?” Rồi Vu bà giơ chân múa tay để mô tả nhan sắc Ngũ Khả. Nghe xong, Vân Nương mừng lắm, mời Vu bà vào phòng Ký Sinh nói chuyện.

    Gặp Ký Sinh, Vu bà hỏi thăm sức khỏe rồi nói:”Lão thân nghe nói công tử bị bệnh và gia đình đã mời một thầy thuốc tới nhà chữa bệnh cho công tử, nhưng thầy thuốc ấy không chịu tới! Nay lão thân biết một thầy thuốc khác, giỏi hơn thầy thuốc của công tử nhiều, nên lão thân tới đây để giới thiệu với công tử!” Ký Sinh lắc đầu, nói:”Cháu cám ơn Bà, nhưng thầy thuốc của Bà không thể chữa được bệnh cho cháu thì mời tới làm chi?” Vu bà cười, nói:”Công tử đã biết thầy thuốc của lão thân là ai đâu mà võ đoán như thế? Công tử bị bệnh, mời thầy thuốc tới nhà chữa bệnh cho mình là đúng, nhưng nếu thầy thuốc ấy không chịu tới thì phải mời thầy thuốc khác, chứ cứ nhất định nằm chờ một thầy thuốc cho đến chết thì có phải là u mê quá hay không?” Ký Sinh khóc mà nói:”Thế nhưng trong thiên hạ không có thầy thuốc nào giỏi bằng thầy thuốc của cháu thì biết làm thế nào?” Vu bà nói:”Sao cái nhìn của công tử lại hẹp hòi đến thế?” Rồi miệng nói, tay khua, Vu bà mô tả nhan sắc Ngũ Khả, từ tóc tai, da dẻ tới thần thái, tác phong. Ký Sinh vẫn lắc đầu, nói:”Xin Bà đừng nói nữa! Cháu không dám mơ ước nhiều như thế đâu!” rồi trở mình, quay mặt vào tường mà nằm, tỏ ý không muốn nghe nữa.

    Thấy thế, Vu bà cũng bực mình, liền ra khỏi phòng, lên thuật lại cho vợ chồng Quế Am nghe. Quế Am hứa với Vu bà là sẽ khuyên con và viết thư trả lời Trương ông.

    Sau khi Vu bà cáo biệt, Quế Am vào phòng khuyên con. Thấy con không thuận, Quế Am cũng làm ngơ, không viết thư trả lời Trương ông nữa.

    Hôm sau, bệnh tình của Ký Sinh lại trở nặng.

    Đang nằm mê man, bỗng Ký Sinh thấy một tì nữ chạy vào báo:”Thưa công tử, tiểu thư mà công tử vẫn hằng thương nhớ đã tới sân nhà mình, sắp vào đây thăm công tử!” Ngỡ là Khuê Tú, Ký Sinh mừng quá, vội vàng vùng dậy, chỉnh lại áo quần, xỏ giầy chạy ra đón tiếp.

    Ra tới hành lang, Ký Sinh quả thấy một tiểu thư mặc áo gấm quần thêu, đang từ dưới sân bước lên bậc thềm. Tuy nhiên, khi tiểu thư tới gần, Ký Sinh mới biết không phải là Khuê Tú mà là một giai nhân khác, nhan sắc phi thường, miệng cười chúm chím.

    Xao xuyến trước nhan sắc phi thường ấy, thầm nghĩ chắc giai nhân không phải là người phàm, Ký Sinh vội vòng tay thi l­ễ mà hỏi: ”Phải chăng nương tử là thần tiên giáng thế? Xin cho tiểu sinh được rõ để tiện bề xưng hô!” Giai nhân mỉm cười, cất giọng oanh vàng mà đáp: ”Thiếp là Trương Ngũ Khả, cũng chỉ là một phàm nhân như công tử mà thôi! Hôm nay, thiếp tới đây để nhắc công tử một điều!” Ký Sinh hỏi: ”Xin nương tử cho biết là điều chi?” Giai nhân đáp: ”Công tử là khách đa tình mà lại dồn hết tình cảm của mình vào một người thôi thì tránh sao khỏi sự bất bình của kẻ khác?” Ký Sinh vội nói: ”Cám ơn nương tử đã mở mắt cho tiểu sinh! Vì từ trước tới nay tiểu sinh chưa từng được nhìn thấy nhan sắc nào phi thường như nhan sắc nương tử nên trong con mắt thiển cận của tiểu sinh, Khuê Tú là đệ nhất giai nhân trần thế! Nay thì tiểu sinh đã biết là mình lầm, mong được nương tử tha thứ!” Giai nhân lại mỉm cười. Hai người bèn trò chuyện rồi trở thành bạn thân, cầm tay nhau âu yếm, thề cùng chung thủy.

    Hôm ấy, thấy bệnh tình của con lại trở nặng, Vân Nương đích thân vào phòng xoa bóp cho con.

    Bị mẹ đụng vào mình, Ký Sinh tỉnh giấc mới biết là mình nằm chiêm bao. Tuy nhiên, Ký Sinh vẫn còn tưởng chừng như nhìn thấy nhan sắc giai nhân ở trước mắt, nghe thấy tiếng nói giai nhân ở bên tai.

    Thầm nghĩ nếu quả Ngũ Khả có đủ vẻ đẹp như giai nhân trong mộng thì mình chẳng cần phải đi cầu Khuê Tú làm chi, Ký Sinh bèn thuật lại giấc mộng cho mẹ nghe. Vân Nương mừng lắm, vội sai gia nhân đi mời Vu bà tới nói chuyện.

    Vu bà tới. Vân Nương nhờ Vu bà đến nhà họ Trương hỏi Ngũ Khả cho con. Vu bà nhận lời, nhưng nói phải chờ ít bữa nữa mới có dịp thuận tiện.

    Vu bà về rồi, vốn tính đa nghi, Ký Sinh lại ngờ rằng chưa chắc Ngũ Khả đã đẹp như giai nhân trong mộng! Biết bà hàng xóm phía đông nhà mình là Uông bà có quen với gia đình họ Trương, Ký Sinh vội lò dò sang nhờ Uông bà đến nhà họ Trương xem mặt Ngũ Khả giùm mình. Uông bà nhận lời.

    Hôm sau, Uông bà tới thăm Trương bà, giả như không biết chuyện giữa Ký Sinh với Ngũ Khả. Chuyện trò hồi lâu, Uông bà hỏi:”Ngũ tiểu thư vẫn được mạnh khoẻ chứ?” Trương bà đáp:”Cháu đang bị mệt, phải nằm nghỉ ở trong phòng!” Uông bà xin vào thăm. Trương bà liền dẫn vào.

    Thấy Ngũ Khả có nhan sắc cực kỳ diễm lệ, dáng vẻ cực kỳ yểu điệu, đang ngồi ở án thư, ngoẹo đầu tựa má trên bàn tay ra chiều suy nghĩ, Uông bà liền lên tiếng hỏi:”Bệnh tình tiểu thư ra sao?” Ngũ Khả chưa kịp đáp thì Trương bà đã đỡ lời con:”Cháu có bị bệnh chi đâu! Mấy hôm nay cháu hơi bực mình với cha mẹ nên hơi bị mệt đó thôi!” Uông bà hỏi:”Tiên sinh với phu nhân làm chi mà tiểu thư lại bực mình?” Trương bà đáp:”Có làm chi đâu! Chỉ vì có rất nhiều vương tôn công tử tới dạm hỏi nhưng cháu đều từ chối, chẳng ưng đám nào. Gia đình khuyên nên chọn một đám thì cháu hỏi tại sao lại muốn gả chồng cho cháu gấp thế? Đáp là muốn được nhìn thấy cháu có gia thất sớm thì cháu giận hờn, bỏ ăn bỏ ngủ mấy ngày nay!” Uông bà hỏi:”Thế tiểu thư có tỏ ý ưng ai bao giờ không?” Trương bà gật đầu, đáp:”Có!” Uông bà vội hỏi:”Thưa phu nhân, ai thế?” Trương bà đáp: ”Công tử Ký Sinh, bên tiên sinh Vương Quế Am!” Uông bà nói:”Nếu thế thì thực là đũa ngọc có đôi! Sao bên này không nhờ người tới bắn tiếng với nhà họ Vương?” Trương bà đáp:”Có! Gia đình đã nhờ Vu bà tới bắn tiếng với bên ấy rồi, nhưng công tử Ký Sinh không thuận!” Uông bà nói:”Chắc vì công tử chưa được nhìn thấy dung nhan của tiểu thư đó thôi! Nếu được nhìn thấy rồi thì lão thân dám chắc là công tử sẽ bị mê mẩn tâm hồn mà xin cha mẹ nhờ bà mối tới đây hỏi cưới tiểu thư tức khắc! Lúc đó, nếu tiểu thư mà từ chối thì lão thân dám chắc là công tử sẽ bị thất tình mà chết! Để lão thân về nói với Vương tiên sinh và phu nhân nhờ bà mối tới đây hỏi tiểu thư cho công tử. Chẳng hay gia đình ta có ưng không?” Nghe Uông bà nói, Ngũ Khả vội xua tay:”Xin Bà đừng làm thế! Lỡ ra người ta không thuận thì cháu xấu hổ lắm, rồi sẽ bị thiên hạ cười cho!” Uông bà cười, nói:”Xin tiểu thư đừng lo! Lão thân dám đoan quyết rằng lần này thế nào cả nhà họ Vương cũng đều phải ưng thuận!” Ngũ Khả mỉm cười. Uông bà bèn cáo biệt.

    Về nhà, thấy Ký Sinh đang ngồi chờ mình, Uông bà bèn tả hết vẻ đẹp của Ngũ Khả cho nghe. Tuy thấy Uông bà tả vẻ đẹp của Ngũ Khả giống hệt lời tả của Vu bà, Ký Sinh vẫn chưa tin, hỏi:”Thế Ngũ tiểu thư phục sức ra sao?” Uông bà đáp:”Tiểu thư mặc áo gấm quần thêu!” Thấy Uông bà tả giống hệt cách phục sức của giai nhân trong mộng, Ký Sinh cũng mới chỉ hơi an tâm, chứ vẫn chưa tin hẳn lời Uông bà.

    Mấy hôm sau, thấy bệnh tình của mình đã thuyên giảm, Ký Sinh bèn lén sai gia nhân đi mời Vu bà tới cho mình nhờ một việc. Vu bà tới, hỏi:”Công tử muốn nhờ lão thân việc chi?” Ký Sinh nói:”Cháu muốn nhờ Bà tìm cách cho cháu được nhìn thấy Trương Ngũ tiểu thư một lần!” Vu bà nói:”Việc này khó lắm, lão thân không dám nhận lời đâu! Nhưng thôi, công tử đã nhờ thì để lão thân cố giúp một lần xem sao! Xin công tử chờ cho ít bữa!” Nói xong, Vu bà cáo biệt.

    Ba ngày sau, không thấy Vu bà trở lại, Ký Sinh toan sai gia nhân đi mời thì chợt thấy Vu bà bước vào sân nhà mình, nét mặt tươi cười hớn hở.

    Vào phòng Ký Sinh, Vu bà nói:”Công tử may lắm! Hôm nay nhân dịp tới thăm ông bà Trương, lão thân có ghé thăm Ngũ tiểu thư! Nghe nói mấy hôm trước, tiểu thư bị se mình, nhưng hôm nay đã đỡ. Tình cờ nghe thấy tiểu thư bảo lũ tì nữ sáng mai dìu tiểu thư sang gian nhà đối diện trong sân để đổi gió, nên lão thân vội tới đây đề nghị với công tử là sáng mai, giờ thìn, công tử tới gặp lão thân ở trước cổng nhà họ Trương. Lão thân sẽ dẫn công tử vào nấp ở trong sân mà nhìn! Tiểu thư còn yếu sức, chắc sẽ đi chậm, công tử tha hồ mà ngắm!” Mừng quá, Ký Sinh cứ vâng dạ luôn miệng. Vu bà bèn cáo biệt.

    Sáng sau, Ký Sinh sai gia nhân đem ngựa cho mình cưỡi tới trước cổng nhà họ Trương thì thấy Vu bà đã đứng ở đó.

    Vu bà vội bảo Ký Sinh đem ngựa ra gốc cây đằng xa mà buộc, rồi dẫn Ký Sinh lẻn qua cổng, vào căn nhà ngang ở cạnh sân, bảo đứng nấp sau cánh cửa, rồi Vu bà lên phòng Ngũ Khả.

    Lát sau, Ký Sinh thấy một tiểu thư vịn vai hai tì nữ, từ trong phòng bước ra sân, có Vu bà theo sau. Từ chỗ nấp, Ký Sinh dán mắt nhìn qua khe cửa.

    Trong khi tiểu thư cất bước, Vu bà cứ lấy tay chỉ trời, chỉ đất, cốt để cho tiểu thư nhìn theo tay mình mà chậm bước lại. Thấy tiểu thư giống hệt giai nhân trong mộng, Ký Sinh mừng quá, run rẩy cả người, mơ hồ như mình đang nằm chiêm bao.

    Khi tiểu thư đã vào nhà, Vu bà bèn lẻn tới chỗ Ký Sinh nấp, hỏi:”Công tử thấy thế nào? Tiểu thư Ngũ Khả có thể thay được tiểu thư Khuê Tú chăng?” Ký Sinh vội gật đầu, đáp:”Dạ, thưa Bà được! Cháu xin cám ơn Bà!” Vu bà bèn dẫn Ký Sinh lẻn ra cổng. Ký Sinh vội tới gốc cây, tháo ngựa ra về.              

    Tới nhà, Ký Sinh thưa chuyện với cha mẹ. Vợ chồng Quế Am bèn nhờ bà mối họ Quách đến nhà họ Trương hỏi Ngũ Khả cho con.

    Hôm sau, khi Quách bà đến nhà họ Trương hỏi Ngũ Khả cho Ký Sinh thì Trương ông cho biết là đã nhận lời gả Ngũ Khả cho đám khác rồi. Không biết nói chi thêm, Quách bà xin cáo biệt, tới nhà Quế Am thuật chuyện.

    Nghe chuyện, Ký Sinh thất vọng lắm, bệnh cũ lại phát tác. Vừa buồn cho con, vừa bực vì con, vợ chồng Quế Am lên tiếng trách:”Con trai gì mà hèn quá thế? Sao chẳng có chút nghị lực nào vậy?” Ký Sinh chỉ im lặng.

    Từ hôm ấy, mỗi ngày Ký Sinh chỉ húp một chút nước cháo để cầm hơi.

    Ba tháng sau, thân hình Ký Sinh chỉ còn da bọc xương, trông tiều tụy hơn lần bệnh trước nhiều.

    Một hôm, Vu bà tới thăm vợ chồng Quế Am. Sau khi trò chuyện, Vu bà xin phép vào thăm Ký Sinh. Vân Nương dẫn Vu bà vào phòng Ký Sinh rồi trở ra.

    Thấy Ký Sinh, Vu bà kinh ngạc, hỏi:”Sao công tử lại tiều tụy hốc hác quá thế?” Ký Sinh bèn oà lên khóc rồi thuật lại lý do cho Vu bà nghe. Vu bà cười, nói: ”Công tử si tình quá lắm! Thế nhưng lỗi là lỗi ở công tử chứ đâu có phải là lỗi ỏ người ta? Trước kia người ta chạy theo công tử thì công tử hắt hủi! Bây giờ công tử lại đi cầu người ta thì người ta tự ái, đâu có thể ưng thuận ngay được? Tuy nhiên, lão thân thấy việc này vẫn còn hy vọng!” Ký Sinh vội hỏi:”Thưa Bà, liệu còn chút hy vọng nào không?” Vu bà nói:”Còn! Tại công tử đi nhờ Quách bà chứ nếu công tử nhờ lão thân thì việc này xong từ lâu rồi! Công tử mà nói cho lão thân biết sớm thì dù cho Trương Ngũ tiểu thư đã hứa hôn với hoàng tử con vua, lão thân cũng vẫn giật lại được cho công tử!” Mừng quá, Ký Sinh vội hỏi:”Thế bây giờ cháu phải làm chi?” Vu bà cười, đáp:”Công tử thì làm chi được? Phải có lệnh tôn đứng ra cầu hôn cho thì việc mới thành!” Ký Sinh vội nói:”Thế thì xin Bà làm ơn lên nói với cha cháu giùm! Cháu xin cám ơn Bà!” Vu bà gật đầu.

    Ký Sinh dẫn Vu bà lên gặp cha.

    Gặp Quế Am, Vu bà nói:”Thưa tiên sinh, bây giờ xin tiên sinh viết thư cho Trương ông, xin ngày mai tới gặp để bàn chuyện hôn nhân cho công tử với Ngũ tiểu thư, rồi sai gia nhân đem thư đi ngay cho!” Quế Am nói:”Trương ông đã nhận lời gả Ngũ tiểu thư cho đám khác rồi mà!” Vu bà nói:”Vì không thấy tiên sinh trả lời nên Trương ông mới nhận lời gả Ngũ tiểu thư cho đám khác! Tuy nhiên, lão thân biết Trương ông mới nhận lời suông thôi, chứ chưa viết hôn ước!” Quế Am nói:”Nhưng trước kia bản nhân đã quên không trả lời Trương ông nên e Trương ông vẫn còn giận. Bây giờ nếu lại đường đột xin tới gặp thì e Trương ông càng giận mà từ chối!” Vu bà nói:”Tuy Trương ông có giận tiên sinh thực, nhưng lão thân thấy Trương ông chiều con lắm, thế nào cũng hỏi ý con chứ không tự ý từ chối đâu! Ngạn ngữ có câu Ai nấu trước, ăn trước! Vậy xin tiên sinh cứ thử viết thư xem sao, việc chi mà ngại?” Thấy Vu bà nói có lý, Quế Am bèn nghe lời, lấy giấy bút ra viết một bức thư, rồi sai hai gia nhân đem thư tới nhà Trương ông.

    Trương ông mở thư ra coi, đi hỏi ý Ngũ Khả, rồi phúc thư, đưa cho hai gia nhân cầm về.

    Quế Am mở phúc thư ra coi, thấy Trương ông thuận cho mình hôm sau tới gặp để bàn chuyện hôn nhân cho con thì mừng lắm, thưởng tiền cho Vu bà. Vu bà cũng mừng, nhận tiền rồi xin cáo biệt.

    Hôm sau, Quế Am tới nhà Trương ông xin hỏi Ngũ Khả cho Ký Sinh. Mọi việc đều êm xuôi rồi hai bên cùng ấn định ngày hỏi, ngày cưới. Thấy việc đã thành, Ký Sinh mừng lắm, khỏi hẳn bệnh rồi quên luôn Khuê Tú.           

    Lại nói về gia đình họ Trịnh.

    Khi thấy cha tuyệt giao với gia đình cậu, Khuê Tú buồn lắm, nhưng vẫn nuôi hy vọng là sẽ có ngày mình được làm vợ Ký Sinh. Nay nghe tin Ký Sinh sắp thành hôn với người con gái thứ 5 của gia đình họ Trương, Khuê Tú đâm ra tuyệt vọng. Vì uất ức với cha, Khuê Tú nhuốm bệnh, suốt ngày cứ hoảng hốt như kẻ bị ma làm, thân hình mỗi ngày một tiều tụy. Ông bà Trịnh hỏi lý do thì Khuê Tú không dám nói sự thực, chỉ trả lời là không biết tại sao. Ông bà bèn mời thầy thuốc tới nhà chữa bệnh cho con, nhưng bệnh của Khuê Tú vẫn không thuyên giảm.

    Một hôm, một tì nữ biết tâm sự của Khuê Tú, bèn lên thưa với Nhị Nương. Nhị Nương nói lại với chồng. Tử Kiều giận lắm, nói:”Nếu thế thì đổ thuốc đi, không cho nó uống nữa! Ta sẵn sàng ngồi chờ tin nó chết!” Thấy chồng nói thế, Nhị Nương oán hận lắm, nói:”Ký Sinh là cháu trai bên ngoại! Y cũng chẳng xấu xa gì! Tại sao chàng cứ giữ cái hủ tục là con cô con cậu không được lấy nhau để giết con mình?” Tử Kiều càng giận, nói:”Sanh con như thế thì chỉ tổ để thiên hạ cười cho thôi! Thà để cho nó chết đi còn hơn là để cho nó sống!” Vì thế mà hai vợ chồng cứ  hục hặc với nhau.

    Thương con quá, Nhị Nương nảy ý riêng.

    Một hôm, Nhị Nương vào phòng con, nói dò ý:”Ký Sinh có cưới vợ thì cũng chẳng sao! Mẹ sẽ gả con cho y làm vợ lẽ!” Khuê Tú chỉ im lặng. Nhị Nương bèn hỏi lại:”Con có ưng làm vợ lẽ Ký Sinh không?” Khuê Tú gật đầu. Nhị Nương ra nói lại với chồng. Tử Kiều giận lắm, nói:”Thôi! Bây giờ ta giao hẳn nó cho nàng! Ta coi như nó đã chết rồi, không muốn nghe ai nói tới nó nữa!” Nhị Nương lại đem lời chồng vào thuật cho con nghe. Thấy cha giao mình cho mẹ, Khuê Tú mừng lắm, rồi bệnh khỏi dần.

    Vào sáng ngày cưới của Ký Sinh với Ngũ Khả, Nhị Nương sai hai tráng nô sang thưa với Quế Am rằng mình muốn sang dự đám cưới cháu.

    Vốn quý em gái, nay lại thấy em gái muốn sang dự đám cưới con mình, Quế Am mừng lắm.

    Thấy nhà em gái ở gần nhà mình, mà nhà mình đang có sẵn cỗ xe ngựa đón dâu, Quế Am liền sai gia nhân giong cỗ xe ấy đi đón em gái.

    Khi xe tới, Nhị Nương sai hai tráng nô khiêng một cuốn thảm lớn lên xe, bảo hai bà vú lấy y phục cô dâu mặc cho Khuê Tú, lấy khăn lụa đỏ choàng lên đầu Khuê Tú, phò Khuê Tú theo mình lên xe, rồi bảo gia nhân nhà Quế Am đánh xe về.

    Tới nơi, Nhị Nương sai hai tráng nô trải thảm từ bậc xe tới cửa sảnh đường, rồi bảo hai bà vú dìu Khuê Tú xuống, theo mình bước lên thảm mà vào.

    Thấy trong sảnh đường có sẵn ban nhạc, Nhị Nương liền bảo các nhạc công cử nhạc. Ngỡ là nhà gái đưa dâu tới sớm, các nhạc công nổi trống kèn inh ỏi, vang động khắp nhà.

    Đang ở trong phòng, nghe thấy tiếng trống kèn ngoài sảnh đường, Ký Sinh kinh hãi quá, không hiểu tại sao nhà gái lại đưa dâu tới trước giờ ấn định, bèn chạy ra coi.

    Ra tới nơi, thấy cô dâu đã phục sức lộng lẫy, choàng đầu bằng khăn lụa đỏ, còn mình vẫn ăn mặc lôi thôi, Ký Sinh vội quay vào phòng để thay y phục.

    Nhìn thấy Ký Sinh quay gót, Nhị Nương vội sai hai tráng nô chạy theo, kéo lại. Thấy Cô trong sảnh đường, ngỡ rằng Cô sang sớm để dự l­ễ cưới của mình, Ký Sinh mừng lắm. Bỗng thấy Cô bảo mình phải làm lễ­ giao bái ngay với tân nương, ngỡ rằng Cô đã được cha mẹ nhờ điều khiển buổi lễ, Ký Sinh vội tuân lời mà làm lễ giao bái.

    Lễ xong, Nhị Nương dìu Khuê Tú ngồi xuống chiếc ghế cô dâu, mở khăn choàng đầu ra. Khi nhìn thấy cô dâu là Khuê Tú chứ không phải là Ngũ Khả, Ký Sinh mới vỡ lẽ, sững sờ kinh ngạc.

    Nghe tiếng trống kèn nổi lên quá sớm, mọi người trong nhà đều lấy làm lạ, rủ nhau lên sảnh đường coi.

    Khi biết rõ sự tình, mọi người đều kinh hãi, rối loạn cả lên, không biết phải làm thế nào. Quế Am thì cứ nhìn em gái mà khóc dở mếu dở, muốn vui cũng không được mà muốn giận cũng không xong. Mọi người đua nhau bàn ra tán vào.

    Đến tối, tới giờ đón dâu, Quế Am không dám cho con đi đón dâu nữa, chỉ sai gia nhân tới nhà họ Trương trình bày sự thực.

    Nghe chuyện, Trương ông giận lắm, muốn tuyệt giao với nhà họ Vương. Ngũ Khả không chịu, nói với cha:”Kẻ kia tuy tới trước, nhưng chỉ là cô dâu giả chứ không phải là cô dâu thực! Con mới là cô dâu thực! Vậy tại sao Cha không bảo nhà trai cứ tới đón dâu?” Thấy con gái nói có lý, Trương ông đành vuốt giận làm lành, sai gia nhân tới nói với nhà họ Vương cứ cho xe đến đón dâu. Quế Am gật đầu ưng thuận nhưng khi gia nhân nhà Trương ông về rồi thì Quế Am lại trù trừ, không dám làm theo lời nhà gái. Chờ mãi không thấy nhà trai cho xe đến đón dâu, Ngũ Khả biết rằng nhà trai đã làm ngơ, bèn thưa với cha:”Cha cứ cho xe ngựa nhà mình đưa dâu tới nhà trai!” Nghe lời con gái, Trương ông sai gia nhân giong xe ngựa, đưa con gái tới nhà họ Vương.

    Tới nơi, gia nhân nhà họ Trương tự ý tìm một phòng trống, đưa Ngũ Khả vào ngồi rồi lanh tay lẹ chân biến phòng ấy thành phòng đón dâu. 

    Thấy xe ngựa nhà gái đưa Ngũ Khả tới, Ký Sinh cứ luýnh quýnh chạy ra chạy vào, không biết phải làm thế nào.

    Thấy hoàn cảnh trớ trêu, Vân Nương bèn dắt Khuê Tú vào phòng Ngũ Khả để điều đình cho Ký Sinh được cưới cả hai người, ai lớn tuổi thì làm chính thất. Bị dồn vào thế khó xử, Ngũ Khả đành phải ưng thuận. Thế nhưng, khi so tuổi, thấy Khuê Tú hơn mình một tuổi, Ngũ Khả lại tỏ vẻ khó chịu. Tuy nhiên, vì đã trót ưng thuận Ngũ Khả đành phải làm vợ lẽ.

    Vân Nương lo lắm, nhưng cũng ra bảo Ký Sinh phải vào phòng làm lễ giao bái với Ngũ Khả. L­ễ xong, gia nhân nhà họ Trương đánh xe ra về.

    Thấy Khuê Tú chững chạc, đàng hoàng mà lại hiền lành, thùy mị, Ngũ Khả cũng bắt đầu có cảm tình. Vì thế, mỗi lúc Ngũ Khả một thêm thân thiện với Khuê Tú rồi mọi chuyện đều êm xuôi.

    Ba ngày sau. Tự nghĩ mình có bổn phận phải làm cho hai con dâu hòa thuận với nhau, Vân Nương cho gọi cả Khuê Tú và Ngũ Khả vào phòng mình nói chuyện. Khi thấy hai con dâu rất thân thiện với nhau, Vân Nương hết sức ngạc nhiên. Vân Nương đem chuyện thân thiện giữa hai con dâu ra khoe với chồng, nhưng Quế Am vẫn dè dặt, nói rằng lâu dần rồi thế nào cũng có chuyện xích mích.

    Ba tháng sau, thấy hai con dâu không những không xích mích mà lại quý mến nhau như chị em gái, Quế Am cũng phải ngạc nhiên.

    Một hôm rảnh rỗi, Ký Sinh hỏi riêng Ngũ Khả:”Trước kia, nàng đã biết Quách bà sắp tới hỏi nàng cho ta, sao nàng còn đi nhận lời đám khác?” Ngũ Khả cười, đáp:”Có nhận lời đám nào đâu?” Ký Sinh hỏi:”Thế sao thân phụ nàng lại nói với Quách bà là đã nhận lời đám khác rồi?” Ngũ Khả đáp:”Vì thiếp muốn báo thù chàng!” Ký Sinh hỏi:”Thù chi?” Ngũ Khả đáp:”Thù việc chàng đã từ chối lời đề nghị của bà mối họ Vu! Khi chàng chưa nhìn thấy thiếp thì chàng chỉ mê có một mình Khuê Tú nên thiếp ngờ rằng chàng vẫn mê Khuê Tú hơn thiếp! Vì thế, thiếp muốn cân xem tình cảm của chàng đối với Khuê Tú nặng nhẹ ra sao! Thấy Khuê Tú đã làm cho chàng bị ốm tương tư, thiếp thầm nghĩ nếu mình không làm được như thế thì cũng chẳng nên ép chàng cưới mình! Vì thế, thiếp mới thưa với cha mẹ rằng nếu gia đình chàng có nhờ bà mối tới hỏi thì cứ nói dối là đã nhận lời gả thiếp cho đám khác rồi!” Ký Sinh cười, nói:”Nàng báo thù ác quá! May nhờ có Vu bà giúp đỡ nên ta mới được thấy nhan sắc nàng!” Ngũ Khả nói:”Chẳng phải là Vu bà đã giúp đỡ được chàng đâu! Chính thiếp đã bày ra việc Vu bà dẫn chàng tới nhà thiếp đó! Lúc thiếp vịn vai tì nữ bước qua sân, thiếp đã biết rõ là chàng đang nấp trong nhà ngang dòm trộm!” Lúc đó, Ký Sinh mới vỡ lẽ.

    Ngũ Khả lại hỏi:”Tại sao chàng đã nằm mộng thấy thiếp rồi mà vẫn chưa tin, phải nhờ Vu bà tìm cách cho nhìn thấy thiếp?” Kinh ngạc quá, Ký Sinh hỏi: ”Sao nàng lại biết được chuyện ta nằm mộng thấy nàng?” Ngũ Khả đáp:”Vì khi thiếp bị bệnh, thiếp nằm mộng thấy mình tới nhà chàng để làm vợ lẽ! Sau đó thiếp lại nghe nói chàng cũng nằm mộng thấy thiếp nên thiếp rất ngạc nhiên! Suy đi nghĩ lại, thiếp tin rằng hồn thiếp đã lìa khỏi xác để tới nhà chàng!” Nghe chuyện, Ký Sinh càng kinh ngạc, rồi thuật lại giấc mộng của mình cho Ngũ Khả nghe. Hai người bèn so ngày giờ nằm mộng thì thấy ngày giờ trùng nhau.

    Từ đó, Ký Sinh, Khuê Tú và Ngũ Khả chung sống với nhau cực kỳ tương đắc, cho đến hết cuộc đời.

    Vì cha con Vương Quế Am cùng nhờ giấc mộng mà có được lương duyên nên bản nhân mới lấy làm lạ mà chép chuyện cả hai cha con vào tập truyện này.

     

    Đàm Quang Hưng

    (11/10/2014)
  • TTVDDT 19 - Phần 17
    TTVDDT 19 - Phần 17

     

    Truyện dài

    Doãn Quốc Sỹ

    Dòng Sông Định Mệnh

     

     

     

    Chương 1

     

    Khúc quành của dòng sông

     

    Ô-tô từ Hà Nội đến quãng đầu tĩnh Bắc Ninh thì có một con đường đá rẽ về tay phải: đường 21. Đi sâu vào con đường đó - đi chân, đi xe đạp, đi xích lô hay đi xe hàng nhỏ nhỉnh hơn xe tắc xi một chút - chừng mười hai cây số thì gặp con sông Đuống nước đỏ ửng có bến phà.

    Làng Thiệu được bà Ba giao cho trọng trách trông nom "em Yến" khi đi, khi ở trường, và khi về.

    Khi đi khi về, Thiệu làm đầy đủ bổn phận; nhưng khi ở trường - nghĩa là trong giờ ra chơi - thì không bao giờ Thiệu nhớ đến Yến. Thiệu ham chơi lắm, còn mải đánh khăng, đánh bi, đánh đáo hay đá bóng.

    Con sông Đuống mùa nước cạn trông thật chán phè - Thiệu nghĩ như vậy - nhưng Thiệu cũng không quên rằng nhờ có mùa cạn này Thiệu mới dám xuống nước để tập bơi một mình. Năm lên bảy, một hôm Thày đưa Thiệu ra sông tắm, thấy Thiệu bơi mà ngạc nhiên.

    Khi về Thày nói với Mẹ:

    - Nó bơi giỏi như con nhà thuyền chài ấy mẹ nó ạ.

    Vào mùa nước, Thiệu thích đi dọc theo con đê làng ngắm cảnh sông nước mênh mông. Mỗi khi ngắm như vậy Thiệu thấy quên hết những thứ mà Thiệu vẫn thích: đánh bi, đánh khăng, đánh đáo, đá bóng. Thiệu thấy hình như mình buồn rầu thì phải, nhất là khi ngắm khúc quành của con sông ở tít phía xa, trước khi cả dòng sông mất húy sau một lũy tre mờ mờ, có một cây đa vươn lên cũng mờ mờ. Về nhà hỏi Mẹ, Thiệu mới biết đó là làng Thái Lung-Thượng. Khi nghe Mẹ kể chuyện Thạch Sanh thì Thiệu đồ rằng có lẽ cây đa làng Thái Lung -Thượng là cây đa của Thạch Sanh ngày xưa. Đến khi nghe chuyện Phạm Công Cúc Hoa, Thiệu lại đồ rằng tại bãi tha ma bên kia bến phà hẳn là đêm đêm vẫn có những cảnh mẹ hiện hồn lên cho con bú như Cúc Hoa đã hiện hồn với hai con.

    Thiệu nghĩ bụng: giá sau này Mẹ có chết, rồi chôn ở ngoài đồng, đêm đến Thiệu ra ngồi bên mả khóc thì thế nào Mẹ cũng hiện lên, Mẹ cũng ôm Thiệu, vuốt tóc Thiệu và lúc trời sắp sáng thế nào mà Mẹ chẳng đánh lừa: "Con hãy cúi xuống để Mẹ bắt chất cho con!" Thiệu sẽ không cúi xuống mà nắm lấy vạt áo Mẹ. Không hiểu làm thế Mẹ có sống lại không nhưng nhất định là Mẹ không biến vào mồ được rồi.

    Yến đi học cùng Thiệu được hai tháng thì một buổi sáng chủ nhật kia Yến theo Thiệu ra đê ngắm sông.

    Thiệu lại nói với Yến:

    - Sông mùa cạn trông chán phèo!

    Khúc quành đằng xa nhỏ hẳn đi, Thiệu chỉ cho Yến thấy lũy tre cùng cây đa và bảo: "Đấy là làng Thái Lung-Thượng." Thiệu lõm bõm kể cho Yên nghe chuyện Thạch Sanh và kết luận: "Dưới gốc đa làng Thái Lung-Thượng cố nhiên là ngày xưa có Thạch Sanh."

    Yến hỏi:

    - Thế làng mình cũng có cây đa, sao ngày xưa Thạch Sanh lại không ở?

    Thiệu gạt đi:

    - Mình có phải là người cùng làng với Thạch Sanh đâu. Thạch Sanh ở làng khác chứ, càng xa càng hay, mà làng Thái Lung - Thượng xa nhất lại cách sông nữa thì Thạch Sanh phải ở đấy chứ.

    Lúc bấy giờ Yến mới gật đầu cho là phải. Buổi chiều, Thiệu dạy Yến bơi ở gần bến phà. Thiệu buộc túm hai ống quần và cạp quần để khi dìm xuống nước, cả cái quần phồng lên như bong bóng, Yến nắm lấy quần, úp mặt xuống, hai chân đập tầm phòng trên mặt nước. Một tuần sau Yến đã võ vẽ bơi một mình được.

    Thiệu, Yến chỉ tắm khoả thân trong mùa nước cạn năm đó.

    Hai năm sau, Thiệu, Yến vẫn cùng đi học trường làng. Thiệu học lớp Nhì, mà yến thì theo lớp Ba, cuối năm thi "Sơ học yếu lược." Sáng hôm đó Thiệu mặc quần đùi thâm và chiếc áo trúc bâu mới, lên đê ngắm dòng sông đang mùa nước. Lẽ ra theo ý Thày, Thiệu không được mặc áo mới đi chơi, nhưng Mẹ bảo: "Ông cứ để nó mặc cho nhàu hồ đi rồi tôi giặt."

    Xuống đến bến phà, Thiệu gặp Yến. Yến đương đứng trên cầu nổi, tay cầm que tinh nghịch cời những hoa, những quả, những cành củi trôi lướt theo dòng sát bên cầu nổi. Lúc đó phà đã sang bên kia sông và ở bên này chưa có ai tới đợi.

    Yến hỏi:

    - Thiệu đi đâu đấy?

    Thiệu thò tay vào túi áo trúc bâu mới, vây vo:

    - Đi lên đê ngắm sông.

    Chỉ một thân chuối lớn đương lững thững từ xa trôi lại, Thiệu hỏi:

    - Đố Yến thân chuối kia có trôi vào khoảng hoắm của bến này không nào?

    Yến nghiêng đầu ngắm rồi đáp:

    - Chắc là có, nếu không Yến lấy que cời vào.

    Vừa lúc đó có quả gì như quả bưởi lướt qua gần bên ngoài.

    Yến reo:

    - Để Yến cời quả này vào đã!

    Yến hơi kiễng chân vươn người về phía trước và khom lưng để gạt quả bưởi, bất chợt mất thăng bằng ngã tòm xuống nước. Yến chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi bị cuốn theo dòng ngược chiều chảy sát bờ, chân đạp cuống quít trên mặt nước cố cho thân nổi lên.

    Trong một thoáng rất nhanh, Thiệu nhớ ra rằng khi mức sông lên cao, khoảng hoắm này nước vẫn chảy thành vòng tròn. Nhưng ủa, không thể nghĩ lan man hơn được, Yến đang bơi vụng dại theo dòng sát bờ. Thiệu nhảy phăng xuống đón ngay cây chuối vừa giạt vào, đẩy ngay cây chuối ngược chiều nước men bên dòng chính, phía ngoài cùng.

    Phải bơi nhanh, phải đẩy mạnh, mình là đàn ông mà - Thiệu nghĩ - để khi Yến theo dòng bên trong quành ra tới dòng ngoài thì đã có cái víu. A lê hấp, veo! Cây chuối đã được đẩy tới lần thứ năm và lao ra trước Yến đúng một sải tay. Khi Yến víu được cây chuối, Thiệu cũng vừa bơi tới. Thiệu phải bơi sát cây chuối và luôn luôn ẩn cây chuối vào để Yến khỏi lạng ra dòng ngoài. Khi cả hai đều đã leo lên cầu nổi, Yến nhìn Thiệu nhoẻn miệng cười, không biết nói cám ơn.

    Thiệu đưa mắt nhìn dòng sông bên ngoài màu nước đỏ hung dữ như mặt người say rượu có chút máu điên, rất nhiều chỗ ngầu bọt trắng như màu nước dãi phòi ở mép bác cu Tý trong làng mỗi khi bác lên cơn ngất, tay chân giãy đành đạch (mãi về sau này Thiệu mới biết rằng bác Tý mắc bệnh động kinh).

    Làm vẻ rất nghiêm trọng. Thiệu hất hàm hỏi mà không nhìn yến:

    - Yến có trông thấy dòng sông bên ngoài không? Giá không nhanh tay đầy cây chuối kịp, Yến mà lạng người ra ngoài kia thì có thánh cũng không cứu được.

    Không thấy Yến trả lời, Thiệu nhìn lại thấy vẻ mặt Yến lo lắng. Yến chỉ vào quần áo ướt sũng của mình:

    - Làm thế nào về nhà được? Mẹ đánh chết!

    Lúc bấy giờ Thiệu mới sực nhớ mình cũng sũng nước. Ôi thôi, chiếc áo trúc bâu mới may nay thành màu hồng xỉn, lại thêm mấy khoảng hoen ố lớn do nhựa chuối quệt vào. Nhưng chuyện mình hãy gác đấy, còn tính sao cho Yến đã chứ.

    Thiệu bảo:

    - Yến hãy theo Thiệu lên đê, sắp có người lại đợi phà rồi đó.

    Thiệu bước ra khỏi cầu nổi leo nhanh lên khoảng vệ đê có mấy cây nhãn cao và mấy cây duối dại thấp. Yến cũng thoăn thoắt lên theo.

    Thiệu hỏi:

    - Thế bây giờ Yến bảo phải làm thế nào?

    Yến nói:

    - Sáng nay mẹ Yến phơi bộ quần áo thay của Yến ở giây thép ngoài vườn.

    Thiệu cam kết:

    - Để Thiệu về lấy cho.

    Thiệu cởi phăng chiếc áo trúc bâu hung hung đỏ treo lên một cành duối. Thế là Thiệu cởi trần chỉ còn mặc chiếc quần đùi ướt sũng và nói:

    - Thiệu sẽ chui vào vườn lấy trộm quần áo mang đây cho Yến.

    Yến giao hẹn:

    - Thiệu nhớ là quần đen, áo tím nhạt kẻ vuông.

    Thiệu đã sắp sửa chạy về trổ tài, Yến còn hỏi:

    - Thế nhưng Thiệu vào vườn nhà Yến bằng lối nào?

    Thiệu để ngón tay trỏ lên miệng, bí mật:

    - Có một lối Thiệu vẫn chui vào để nhặt những quả mận quả ổi rơi.

    Thiệu nói là " nhặt những quả rơi" cho lịch sự kỳ thực chính Thiệu leo lên, tuốt vội từng chùm quả, bỏ vội vào túi, rồi tuột vội xuống, lủi ra.

    Cũng may mà đi suốt trên đường từ bến cho tới khi vào vườn Thiệu không gặp Thày, Mẹ hoặc các anh chị. Thiệu vừa chui lọt vào hàng rào dâu bụt, chưa kịp đứng thẳng người, đã có tiếng quát, tiếng của bà Ba:

    - A ... a! Ông tướng Thiệu! Có phải ông chui vào định ăn trộm ổi của nhà tôi để tôi chạy sang nhà mách nào!

    Rất nhanh trí - Thiệu cũng không hiểu sao lúc đó mình nhanh trí đến thế - Thiệu đáp:

    - Thưa bác, cháu tìm con quay của cháu văng vào đây.

    Rồi Thiệu làm vẻ vạch cỏ hàng rào chăm chú tìm. Khi bà Ba vào, Thiệu đưa mắt nhận ngay ra chiếc quần và chiếc áo tím kẻ ô của Yến. Chỉ một loáng, Thiệu đã lướt tới quơ được cả hai và lủi ra khỏi hàng rào. Qua cổng nhà mình Thiệu thấy bóng chị Hoa, Thiệu nhảy vội xuống vệ đường khom lưng lại. Chị Hoa không thấy Thiệu. Ra tới bờ sông khi đã đưa quần áo cho Yến thay, Thiệu cũng biết quay đi. Thiệu đã lên mười, Yến lên tám rồi còn gì.

    Yến về, Thiệu cởi nốt quần đùi phơi lên bụi duối rồi nằm lẩn trong một bụi cây chờ cho quần áo khô. Thiệu len lén vào ngõ, chị Hoa trông thấy trước, giơ cả hai tay lên giời:

    - Thôi thế là tong đời cái áo mới rồi, ông mãnh!

    Nhưng nước mắt chị bỗng chảy quanh vì chị thấy Thày quắc mắt rồi nhìn quanh, ý tìm roi. Thiệu không lên nhà trên sợ gần nhà Yến quá. Thiệu lảng thẳng xuống bếp, chỉ vừa kịp đến đứng sau cối xay lúa, Thày đã tới và quất ngang đít Thiệu ba roi cật lực. Thiệu đã nghiến răng mà tuy vậy mỗi roi nhận được vẫn còn phải thốt ra câu:

    - "Con lạy Thày!" - Nhưng rất khẽ.

    Anh Tín - anh trưởng - còn hùn thêm:

    - Thày cứ đánh nữa cho từ sau nó chừa. Đúng là ngã xuống bến phà đây...

    May sao Mẹ đã xuống, Mẹ vừa thay quần áo khác cho vừa nói:

    - Còn ham chơi, còn chết đòn con ạ. Làm sao mà khổ thế, thân lừa ưa nặng!

    Mọi người đã vào mâm cơm trưa. Thiệu hoàn toàn yên lòng: cha, mẹ, anh, chị mắng thế là xong, may là Thiệu tinh ý xuống ngay bếp. Từ bếp cách một khoảng nhà trên, cách một cái vườn rồi mới đến nhà Yến, chắc yến không nghe thấy. Thiệu cho việc này giữ kín đáo như thế là phải, không nên để Yến thắc mắc điều gì.

    Buổi chiều hôm đó, chú Hai ở Hà Nội về chơi mua quà riêng cho Thiệu một bánh sô cô la lớn gồm nhiều thỏi nhỏ bọc giấy thiếc. Thiệu lấy ra một thỏi và tìm Yến, bẻ đưa cho Yến một nửa. cả hai cùng ăn ngon lành lắm. Khi ăn xong, Thiệu thấy bên mép Yến có một vệt sô cô La màu nâu xẫm. Thiệu thích vệt đó lắm, thành thử cứ mỗi lần lấy ra một thỏi sô cô la khác, Thiệu phải đi tìm Yến bằng được, bẻ cho Yến một nửa - nhiều khi quá nửa - để được thấy lại vệt sô cô la đọng bên mép Yến.

     

    (Còn tiếp)

    (11/10/2014)

Những tin cũ hơn

  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 6
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 6

    Chiều Cali đọc thơ Quỳnh Giao - Lê Bình –

    Lòng mang những niềm riêng trong cái chung của quê hương. Dù ra đi xa vạn dặm, tình quê mãi mãi mang theo. Nỗi niềm riêng hay tiếng thở dài? Quỳnh Giao ghi lại: "Cây có cội nước có nguồn," Từ đi mang cả nỗi buồn tái tê Dù cho lạc dấu chân về Cũng không quên được tình quê trong đời" Bà Huyện Thanh Quan nhớ nhà khi chiều về: "Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Gác mái ngư ông về viễn phố Gõ sừng mục tử lại cô thôn Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Kẻ chốn chương đài người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn"

    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 5
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 5

    BÙI THANH MAI Thủ Quỹ Văn Đàn Đồng Tâm

    Tên thật là Bùi Thanh Mai, sinh năm 1931 tại làng Yên Vĩnh, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. - Nơi mà tục truyền rằng đã xẩy ra câu chuyện tình giữa Chữ-Đồng Tử, người nghèo khổ không manh khố với người quyền quý cao sang là Tiên Dung Công Chúa. Thiên tình sử này vẫn còn được truyền tụng trong dân gian, hiện nay dân làng Yên Vĩnh còn sùng kính tại đền thờ “Công Chúa Tiên Dung - Chữ Đồng Tử” đã lâu đời, tuy bị chiến tranh tàn phá nhưng vẫn còn di tích. Mặc dầu tuổi đã cao, nhưng vì có tâm hồn yêu văn chương nghệ thuật, yêu văn hoá Việt nam nên dù văn hay hoặc chưa hay cũng vẫn sáng tác Những tác phẩm đã được các tạp chí và đặc san văn nghệ tại Canada và Mỹ chịu đăng. - Đang chuẩn bị cho in quyển hồi ký ‘’My Life’’ (Đời Tôi) bằng Anh ngữ. Nay bà BÙI THANH MAI đã vui lòng nhận lãnh thêm chức vụ Thủ Quỹ Văn Đàn Đồng Tâm, đã được yêu mến và tín nhiệm. Và vì lý do không được khoẻ nhưng với thiện chí, chị vẫn vui lòng không từ nan các công việc về văn hoá và xã hội. VĂN ĐÀN ĐỒNG TÂM XIN CÁM ƠN CHỊ THỦ QUỸ BÙI THANH MAI
    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 4
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 4

    Hạt Sầu - Tiểu Thu -

    Mai Khanh không hề nghĩ về chàng, vậy mà sáng nay, trong giấc ngủ muộn, nàng đã mơ thấy Thiên. Mà buồn cười là trong mơ, nàng gặp lại Thiên trong một tình huống thật bi thảm: nàng vừa nhận được kết quả thử nghiệm, bị ung thư phổi! Đang rầu rĩ cùng cực thì chàng bỗng xuất hiện. Thấy trên tay Mai Khanh xấp tài liệu về chứng bệnh này, cộng với khuôn mặt rầu rầu, Thiên đã ra dấu hỏi và nàng gật đầu xác nhận. Không nói với nhau một lời. Vậy mà hiểu nhau. Trời ơi, đồng cảm đến như vậy sao? ...

    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 3
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 3

    Có phải tháng sáu trời mưa để nhà thơ Nguyên Sa ca ngợi tình yêu là "dù trời không mưa, anh cũng lạy trời mưa". Có phải tháng sáu là mùa yêu đương để người ta quen nhau? Và có phải tháng sáu để đôi tình nhân sưởi ấm bên nhau dưới khung dù ở Singapore khi trời mưa xuống? Tháng sáu của tôi đã tượng trưng cho sự quen biết nhau tình cờ để rồi hẹn hò và là tháng sáu của sự ướt át tạo nên những thay đổi mới lạ sau cơn mưa mùa hè tưởng chừng như không dứt.

    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 2
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 2

    Thấm thoát mà đã được 2 năm kể từ buổi Ra Mắt Tuyển Tập Đồng Tâm 5 tại Bắc Cali với một buổi hội ngộ nhiều kỷ niệm vui và thân thương. Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh một anh Tạ Xuân Thạc điềm đạm nhưng quả cảm và kiên trì, luôn thức giậy lúc 4 giờ sáng ngồi nhâm nhi cà phê và dự tính công việc phải làm, và hình ảnh anh Việt Hải luôn vượt qua mọi thử thách của định mệnh để suy tư, hăng hái và luôn dấn thân một cách tích cực với những câu pha trò duyên dáng..vì vậy, thiết nghỉ những góp ý của hai anh về 1 số đề tài hẳn là thú vị. Xin nhân bài viết này để ghi lại cùng hai anh Việt Hải và Tạ Xuân Thạc một chút lắng đọng, nhìn lại chặng đường đã qua từ khởi đầu của Văn Đàn Đồng Tâm, những thành quả gì là nổi bật, và những điểm gì là thử thách đáng kể cho những người làm văn hóa tại Hải Ngoại.

    (04/12/2011)
Tin tức
  • Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT
    Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT

    CHƯƠNG TRÌNH GIỚI THIỆU

    TUYỂN TẬP ĐỒNG TÂM SỐ 12 & WEB SITE

    www.VanDan-DongTam.org TẠI HOUSTON TEXAS VÀO NGÀY 15 THÁNG 05 NĂM 2011

    Từ mấy tuần trước ngày Giới Thiệu Sách (GTS), tôi đã nhận được thông báo qua email, và qua diễn đàn của Văn Đàn Đồng Tâm rằng: vào ngày 15- 5- 2011, Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT) sẽ có buổi giới thiệu Tuyển Tập Đồng Tâm số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, và chính thức ra mắt web site vandan-dongtam.org, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi 8282 đường Bellaire, khu Southwest Houston. 

     

    (29/05/2011)
  • Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
    Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
      Doãn Quốc Vinh Dùng Nghệ Thuật Để ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’

     

    Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ - cố Vấn VĐĐT, đã sáng tác và thực hiện những tập thơ  được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang,  tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 4 tập thơ :  Lục Bát Tùy Bút ,  Lục Bát Đôi Bờ, Lục Bát Ru Hời  và  Lục Bát Tình của Doãn Quốc Vinh DOÃN QUỐC VINH với đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim, California.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) xin hân hạnh giới thiệu và thân mời quý văn thi hữu và đồng hương tham gia ủng hộ thật đông đảo.

     

     

    * * * * *

    Từ “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” Gần đây, tôi được dịp đọc lại “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trên trang SángTạo.org. Đọc công khai, đọc bao nhiêu lần tùy thích. Càng đọc, càng thích. Càng đọc, càng u ẩn niềm quê. Càng đọc, càng muốn khóc cho cái điêu linh của quê hương, dân tộc, cho cái nhục nhằn của sinh linh. Càng đọc, càng muốn đi tìm tác giả, để cám ơn ông đã cho tôi được sống với đất nước trong một giai đoạn trước khi tôi chào đời. Càng đọc, càng nhớ lại cái lần đầu tiên gặp Doãn Quốc Sỹ trong cái tủ kính khóa chặt của ông Ngoại tôi ở một vùng quê miền Tây Nam đất Việt. Tôi đọc lén. Lén cái chính quyền sau 1975. Lén cả ông Ngoại tôi, vì sách quý, con nít biết gì mà động vào. Tuy sau này tôi mới biết, ông tôi không hề cấm con cháu đọc sách của ông, dù ông quý sách hơn cả vàng (nên tôi oai hùng mượn ông quyển “Ba Sinh Hương Lửa” và vác về nhà đọc một cách hết sức chính quy). “Ngàn vàng dễ kiếm, lời tốt khó tìm.” Quý là đúng. Và quý nhất là cái thông điệp mà nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã trân trọng gửi gắm cho độc giả ở cuối truyện. Với cái ngôn ngữ giản dị và một tâm hồn thuần Nho, ông nói lên một sự thật và một thực tế mấu chốt của thời đại chúng ta. “Ở thế giới thực dân tư bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” “Tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” Tình thương yêu ấy, nó có mùi vị gì, màu sắc ra sao, kích cỡ thế nào, hình dáng làm sao? Theo tôi, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã xuất sắc trong việc tề gia, để câu trả lời nằm chính ngay trong huyết mạch lưu truyền của ông. Đến “Niêu Cơm Quê Nhà” Con nhà tông, nên chắc chắn phải giống lông giống cánh. Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, đã được bú mớm cái dòng sữa của mẹ và cái dòng tư tưởng của cha từ trong nôi. Doãn Quốc Vinh được biết đến nhiều như một họa sỹ, qua các cuộc triển lãm “Ao Nhà Lung Linh” hay “Chuyện Trò Với Lá,” vừa xuất thần trong bản sắc dân tộc, vừa bật tung những sáng tạo hiện đại. Nhưng Doãn Quốc Vinh cũng dính líu với chữ nghĩa, có lẽ vì cái duyên nghiệp viết lách còn quá nồng nàn giữa hai thế hệ của Doãn gia. Tôi đặc biệt quan tâm đến “Niêu Cơm Quê Nhà,” một bài thơ Doãn Quốc Vinh viết tặng cho người thân ở xa, khi anh còn ở tại Sài Gòn, vào năm 2005.

    Bài thơ dung dị và dân dã như cái niêu cơm, như ý niệm quê nhà, như mối tình thôn quê thuần nông nghiệp. Bài thơ được ‘nấu’ như thế này: “…lạy trời , lạy đất , lạy mây lạy cho lúa chín trĩu đầy hạt thơm lạy cho xó bếp nhiều rơm để tôi thổi chín niêu cơm quê nhà mời anh , mời chị ở xa ghé chơi … xơi chén cơm cà với tôi bát canh bông bí ngọt chồi vại dưa , khoanh cá, khúc dồi … chân quê dăm năm thu vén bộn bề này anh, này chị đường về nhớ chăng?” Doãn Quốc Vinh đã thể hiện “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” một cách thật cụ thể trong bài thơ này. Anh cầu khẩn cho có được những điều kiện cần thiết để nấu một bữa cơm nhà quê, để mời những anh những chị đang sống xa quê, vài năm “thu vén bộn bề” một lần, về lại. Anh mong họ được hưởng lại cái không gian quê nhà ngay trên đầu lưỡi. Không dưng anh làm cho tôi thèm mùi khói rơm quá! Nhưng cái sự chuyên cẩn trong từng cái lạy, cái chọn món, cái ‘thổi’ cơm (rất dân dã, và hầu như chỉ còn ở thôn quê Việt Nam vì sự bành trướng của bếp ga, bếp điện) – tất cả bày ra một mâm cỗ của yêu thương, thông cảm, chia sớt. Người-ở-lại Doãn Quốc Vinh đã “chân thành” và cũng rất “rộng rãi” với tâm sức của mình khi đi ngược dòng thời gian, thổi một “niêu cơm quê nhà” để làm ấm lòng người đi xa. Cho đến khi chính anh cũng là người đang đi xa, thì anh lại tiếp tục ‘thổi’ cơm để gửi về cho những đồng bào ở lại, nhất là những đồng bào nghèo khó. Dùng hội họa để “Cho Em Niềm Hy Vọng 9” Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ cơm cho những người nghèo khổ trên quê hương bằng cách nào? Anh không lạy trời lạy mây nữa. Anh vẽ. Anh đã chọn những bức tranh ưng ý của mình để bán gây quỹ cho SAP-VN tại đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim. Nếu tình người bàng bạc trong văn chương chữ nghĩa của cha con họ Doãn, thì tình người là một nếp sống hằng ngày trong gia đình này. Doãn gia đã cưu mang bao người cơ bần, ngay giữa lúc họ Doãn cũng phải đối diện với khó khăn thời chiến. Họ Doãn đã dùng cái “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” để sống và làm chủ đạo cho dòng tộc mình. Cho nên việc họa sĩ Doãn Quốc Vinh đưa cái “tình thương yêu rộng rãi” ấy đến góp tay với SAP-VN để phục vụ đồng bào trong cảnh khốn cùng, âu chỉ là một việc tất yếu. SAP-VN, với tất cả những thành quả trong hoạt động từ thiện gần hai thập niên qua, đã đón nhận sự giúp đỡ hết mình của biết bao nhân tài và mạnh thường quân. Nhưng sự giúp đỡ của Doãn Quốc Vinh lần này làm cho tôi xúc động theo lũy thừa đôi, có lẽ vì anh diễn đạt cái ‘tình quê’ một cách tự nhiên và sâu sắc, nhất là qua những bài thơ và phát biểu của anh. Trong thời gian chuẩn bị cho ngày gây quỹ, thân mẫu của anh, bà Doãn Quốc Sỹ, nhũ danh Hoàng Thị Thảo, đã hấp hối và qua đời đầu tháng Chín tại Houston, Texas. Có lẽ bà là một trong những người đàn bà hạnh phúc nhất, vì đã có một người phối ngẫu giàu lòng nhân ái như vị văn tài Doãn Quốc Sỹ, đã cùng bà nuôi nấng những người con có tấm lòng tha thiết với quê hương và với đồng bào như Doãn Quốc Vinh. Kính mời quý đồng hương cùng đến, thưởng lãm những “niêu cơm quê nhà” mà Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ bằng óc sáng tạo và nét cọ tài ba, để cùng SAP-VN thắp sáng tình quê trên những vùng nhân sinh nghèo khổ của quê hương. Nếu không có quý vị, “niêu cơm quê nhà” của Doãn Quốc Vinh sẽ không “chín” nổi vì thiếu lửa. Quý đồng hương có thể mua vé trước tại Nhà Sách Tự Lực (714 531 5290, 714 531 5290), hoặc Tiệm Kính Optometry (714 418 0190, 714 418 0190), hay qua email tại (sapvntix@gmail.com). Nếu có thắc mắc về chương trình gây quỹ, xin quý vị gọi số điện thoại 714-901-1997, 714-901-1997. Xin hẹn cùng ‘ăn cơm quê nhà’ với quý vị lúc 4:30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011 tại Nhà hàng Mon Amour (Mon Cheri 2 cũ), tọa lạc tại 3150 W. Lincoln Ave, #134, Anaheim, CA 92801.

     

    Trangđài Glassey-Trầnguyễn

     

     

     

    (10/10/2011)
  • Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng
    Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng

     

                               

     

    Thư Mời

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) trân trọng kính mời quý văn nghệ sĩ và đồng hương thân hữu, vui lòng dành chút thời gian đến tham dự buổi liên hoan văn nghệ giới thiệu tuyển tập VDDT số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi, địa chỉ 8282 Bellaire Blvd. Houston TX 77072, vào chiều Chúa nhật, ngày 15 tháng 05 năm 2011, từ 4PM đến 9PM.

     

    Chương trình gồm nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, hấp dẫn do nhiều nghệ sĩ tham gia trình diễn (Hoàng Kim Khánh, Sonny Phan, Lệ Ngọc, Nguyệt Khánh, J. Ngọc, Nhật Hạnh, Phan Thanh, v.v…)

     

    Vào Cửa Tự Do. Phục vụ Ẩm Thực Miễn Phí.

    Tặng Quà Lưu Niệm. Dạ Vũ Vui Nhộn.

     

    Sự hiện diện của quý vị là một vinh dự và niềm khích lệ lớn lao đối với VDDT.

    Trân trọng kính mời

     

    Thay mặt Ban Tổ Chức

     

    Cù Hoà Phong

    281-975-9782

     

    P.S. Vì chỗ ngồi có giới hạn, xin quý vị vui lòng sớm ghi danh tham dự qua email vandandongtam@gmail.com hay điện thoại cho Tạ Xuân Thạc (281-370-0233), Cù Hoà Phong (281-975-9782) để nhận vé mời.

    Xin chân thành cám ơn.

     

     

                            

     

     

     

     

     

     

    (12/05/2011)
Quảng cáo
KS Bellaire
drmainguyen
Nguyen Quoc Dung
Nhan Hien
Tofu
PharmTrustPharmacy
Mark D.Le M.D.,P.A
TRỢ CẤP TÀN TẬT – SSI
Nguyen Phi Loi
nicolasdetal
Northside Domestic & Import