Chuyên mục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 1
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 2
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 3
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 10
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 12
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 16
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Phần 21
Phần 22
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 17
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 18
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 19
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Sách kỷ niệm
Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Kỷ Niệm Về Nhạc Sĩ Anh Bằng
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Phần 1
Phần 2
Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Văn học
Văn
Thơ
Nghệ thuật
3 videos clips của buổi TalkShow trên đài truyền hình BYN
Âm nhạc
Âm nhạc
Archive
Music Online

There seems to be an error with the player !

Hình ảnh
Video Clip
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 3
Chủ nhật, 04 Tháng 12 2011 14:11
Mục Lục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 3
Page 2
Một cõi đi về (tuởng niệm BS Lê Khắc Tánh) - Nguyễn thị Mắt Nâu
Tất cả các trang

Tiễn biệt bạn hiền Lê Khắc Tánh


Giấc Ngủ Mùa Xuân

Mùa xuân này tôi đến viếng thăm anh.
Giữa những hàng hoa tím lẫn hoa cườm,
bên những lung linh hóa vàng cháy lụn,
Cùng mùi hương nhang nến quyện khói trầm

Mùa xuân trước gặp anh cười rạng rỡ,
hoà tiếng đàn, tiếng hát giữa cuộc vui
Anh là anh hàng ria tình đậm nét,
và có đuôi con mắt diễu cùng người

Văn Đồng Tâm, bốn phương cùng họp mặt
Nâng rượu nồng chúc xuân mãi còn xuân.
Đào năm xưa lá còn mềm biếc nụ,
Mà anh đành nằm ngủ giấc bình an.

Gió vi vu  trên cánh đồng cỏ dại,
dẫn  hồn người xa cõi tạm mênh mang.
Tôi đứng đây cúi đầu nhìn cát bụi
Ôi mỗi người một vé chuyến tàu xuôi.

Những vòng hoa nghiêng mình như tưởng niệm,
Như cúi chào linh ảnh kẻ tài hoa
Nắng vân vê tà áo nhầu khăn trắng,
Tóc rối bời thôi hương phấn hết từ đây.

Lửa cháy rực dẫn đường vào siêu thoát;
Cõi phù du để lại nhúm tro tàn,
Anh đi rồi bè bạn đứng chơ vơ
Trên cây gió phất phơ lời vĩnh biệt
 

Lê Khắc Tánh, chúc anh tròn giấc ngủ
Giữa ngày xuân, nghe chim hót thật buồn...

Phong Vũ


BS Lê Khắc Tánh và phu nhân cùng Việt Hải, Dương Viết Điền,
Phan Đình Minh & Ánh Chi

Vĩnh biệt
BS Lê Khắc Tánh

Thôi rồi đi mãi không về
Tao nhân mặc khách não nề từ đây
Mới chiều hôm ấy men say
Anh đàn anh hát ngất ngây tuổi đời
Bỗng đâu ngưng bặt tiếng cười
Cung đàn lỗi nhịp, đời đời biệt tăm
Thôi đành vĩnh biệt ngàn năm!
Anh đi đi mãi, Đồng Tâm nghẹn ngào!

Hạ Ái Khanh
(California, 22 tháng 03 năm 2009)

Hoài niệm
“ Tưởng nhớ Cố BS Lê Khắc Tánh “

“Cuộc vui còn lắm bạn bè
Sao anh nỡ bỏ đi về thiên thai!”

Vội vàng bỏ dở cuộc vui,
Ra đi bao kẻ ngậm ngùi nhớ anh !
Những ngày vui vội qua nhanh
Từ đây họp mặt vắng anh mất rồi !
Nẻo về phương đó xa xôi. . .
Nhớ nhau hoài niệm những lời tâm giao,
Còn đây kỷ niệm thuở nào,
“Đồng Tâm” bỏ lại anh vào thiên thu !

Nguyễn Tiến Quỳnh Giao

Tìm

Phải người còn ở  quanh đây
Trong mầu áo mới nhuộm đầy khói sương
Xạc xào cây lá trong vườn
Bóng trăng đầu núi mây vương chập chùng

Tìm vào sâu thẳm tâm hồn
Biết bao kỷ niệm vui buồn xuyến xao
Dịu dàng êm ái ngọt ngào
Chỉ còn là giấc chiêm bao chập chờn

Tìm  người xuân hạ thu đông
Bốn mùa đan sợi sắc không tơ trời
Khi sáng sớm lúc chiều phai
Trong thinh lặng, giữa tiếng đời xôn xao

Quỳnh Chi ( Viết cho t2, 14/2/2009)  

Tiễn biệt bạn hiền
Lê Khắc Tánh

Anh Tánh ơi !

Thôi hết rồi
Anh trở về cát bụi
Chuyện văn chương
anh phó mặc Đồng Tâm
Anh ra đi
một cách rất âm thầm
để lại vợ
và các con anh yêu quí

Ôi trần gian
chốn ô trọc vô thường
nơi nghỉ chân
của người đời lữ khách

tàn cuộc chơi
cõi đời
anh coi như đã đủ
chẳng bận tâm
nên rũ áo ra đi
đến một nơi
xa diệu vợi ngàn trùng
nhưng là cõi mà mọi người đều phải đến

Sẽ gặp anh
trong tay bắt mặt mừng . . .
anh nghỉ an
nơi nào đó
có thể nơi tiên cảnh
có suối nưóc trong
cảnh trí thật huy hoàng

nên chẳng tiếc
cõi trần gian đầy ô trọc
xin bắt tay anh
một lần cuối
thật chặt và nồng nàn
tạm biệt nhé
gặp nhau
một ngày kia tươi sáng
. . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Giọt nước mắt
khóc bạn hiền
Tiễn đưa anh Tánh
về tiên cảnh xa xăm.

Tạ Xuân Thạc
Houston, ngày cuối đông

Hư Không và Bạn
- Chu tất Tiến -

Trong cuộc sống của con người trần thế
Vẫn hiểu rằng những giới hạn hư vô
Mà thiên nhiên áp đặt hững hờ
Trên số phận của con nguời, nghiệt ngã
Nên nhân sinh không lấy chi làm lạ
Khi tử sinh, phân cách, chia ly
Có gặp gỡ, phải có lúc ra đi
Có tuơi trẻ, phải có già, bệnh, khổ

Nhưng,
Con nguời vẫn sững sờ, phẫn nộ
Khi những NHÂN HIỀN chợt vút cánh bay xa
Khi đang yêu thuơng chợt nuớc mắt nhạt nhoà
Bởi cách bịêt với nguời thân mến nhất
Như tíêng sét bỗng oà lên chất ngất
Như đất bằng bỗng vụt xuống, tan hoang

Như khi anh,
Lê Khắc Tánh,
Một nhân dáng cao sang
Một thức giả với muôn ngàn lý tuởng
Một nghệ sĩ với cây đàn âm huởng
Một văn nhân, một Thầy Thuốc cứu nguời
Một bạn thân, bỗng lặng lẽ lìa đời
Để lại cho thế nhân hàng hàng giọt lệ

Anh là một giọt sương long lanh trên cành oai vệ
Anh, Hoàng Hạc bay xa, không hẹn ngày về
Là ánh mây đem mưa thấm đẫm, tràn trề
Là tíêng hót lưng trời, chim Sơn Ca vi vút
Những hoàng hôn, tíếng chim heo hút
Gọi loài nguời, hãy sát cánh bên nhau
Hãy yêu thuơng, ngày sáng, đêm thâu
Hãy mở rộng trái tim từ ái
Lê Khắc Tánh,

Anh ra đi, nhưng tên anh vẫn mãi
Trong tim chúng tôi, tiềm thức, suy tư
Trong tíêng ca Quan Họ như mơ
Anh đã hát với hồn thơ rộng mở
Thôi, anh đi, rồi có ngày gặp gỡ
Trong thế giới bên kia, một giây thoáng quanh đây
Bây giờ, thôi, chào cánh hạc bay
Chào anh nhé, hồn thơ, nguời y sĩ...

Chu tất Tiến.

Có những niềm riêng

Lời Giới Thiệu: Bác sĩ Lê Khắc Tánh đến với Văn Đàn Đồng Tâm bằng tấm lòng rộng mở của anh, bằng lòng thành tâm, nhiệt tâm của anh. Anh tham dự buổi ra mắt sách Đệ Tam Chu Niên anh vui thích, anh muốn Đồng Tâm phải vươn lên nữa. Anh ra đi trong nỗi niềm lưu luyến, luyến tiếc. Thay cho sự mất mát đó Đồng Tâm đã mời hiên thê của anh gia nhập vào chung vui, nối tiếp mộng ước văn chương của anh. Bài văn dưới đây cho người đọc hiểu thêm về anh Tánh cùng chị Minh Châu. Đặc biệt giới thiệu dòng văn mang nhiều xúc cảm và thủy chung của chị Minh Châu. Xin trang trọng giới thiệu.
Việt Hải.

oOo

 



 
Gửi góp ý
Tiêu đề
Nội dung

Những tin mới hơn

  • TTVDDT 19 - Phần 18
    TTVDDT 19 - Phần 18

     

    Liêu Trai Chí Dị

     

    Giáo sư Đàm Quang Hưng: Giáo sư Trung học Trưng Vương, Hồ Ngọc Cẩn của các trường tư như Phan Sào Nam, Văn Học, Hưng Đạo, Trường Sơn và nhiều trường khác. Nguyên là Trưởng khoa Toán trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.

    GS Đàm Quang Hưng còn là một học giả bậc nhất về môn Hán Nôm nên chính là một dịch giả tuyệt vời đã dịch tác phẩm LIÊU TRAI CHÍ DỊ.

    Bộ sách này : Gồm 8 quyển trên 4000 trang.

    Tuy tuổi đời GS đã cao, nhưng sức khoẻ của giáo sư vẫn còn tráng kiện nên hiện nay Giáo Sư Hưng vẫn còn là Giáo Sư Toán học, giảng dạy tại Đại Học Cộng Đồng tại Houston Texas.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm đã xin được phép chính thức đăng lại một số bài viết trích trong pho sách LIÊU TRAI CHÍ DỊ quý giá này.

     

    Trân trọng giới thiệu với đọc giả xa gần khắp nơi trên thế giới. Và cũng xin chân thành cám ơn GS Đàm Quang Hưng đã có nhã ý và ưu ái đối với Văn Đàn Đồng Tâm.

     

    Doãn Quốc Sỹ

     

    LIÊU TRAI CHÍ DỊ  - Gs Đàm Quang Hưng -

     

    KÝ SINH

     

    Phụ ký chung tình, tử cánh si

    Mộng hồn điên đảo hệ tương tư

    Họa bình khai xứ song điêu xạ

    Đắc ý ngâm thành khước phiến thi

     

     

                                    

     

    Vương Ký Sinh         

    Huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc, có nho sinh Vương Ký Sinh, tên chữ Vương Tôn, là con trai Vương Quế Am với Mạnh Vân Nương.

    Trước kia, khi Vân Nương hoài thai, ngỡ một câu chuyện chồng đặt ra để  nói đùa mình là thực, đã nhảy xuống sông tự tử, nhưng thoát chết vì được ông lão họ Mạc vớt lên, đem về nhà nuôi. Trong khi Quế Am tin là vợ mình đã chết thì Vân Nương sanh con, đặt tên là Ký Sinh.

    Năm sau, Quế Am tình cờ gặp Ký Sinh nhưng không biết là con mình. Vì Ký Sinh có linh tính nhận ra cha nên gia đình được đoàn tụ và Ký Sinh được cha mẹ nuông chiều. Càng lớn, Ký Sinh càng đẹp trai, thông tuệ. Được cha cho đi học, Ký Sinh được thầy khen là thông minh xuất chúng. Năm lên 8, Ký Sinh đã biết làm văn. Năm 14 tuổi, Ký Sinh được nhận vào học ở trường huyện, nổi tiếng danh sĩ trong vùng. Tuy nhiên, Ký Sinh lại có tính quá đa nghi.

    Quế Am có người em gái, tên Nhị Nương, lấy chồng là nho sĩ Trịnh Tử Kiều, tính rất nghiêm cẩn, sanh một gái, đặt tên là Khuê Tú, rất mực kiều di­ễm và thông tuệ. Tuy là anh em cô cậu, lại ở gần nhà nhau, nhưng Ký Sinh với Khuê Tú chưa được gặp nhau lần nào.

    Năm ấy, nhân dịp tết Nguyên Đán, Ký Sinh được cha mẹ cho theo sang nhà Cô chơi. Gặp Khuê Tú lần đầu, Ký Sinh đã thầm yêu trộm nhớ, bỏ ăn bỏ ngủ, rồi ốm tương tư. Không hiểu tại sao con mình lại tiều tụy như thế, vợ chồng Quế Am hỏi thẳng con. Ký Sinh cứ tình thực mà thưa. Quế Am bèn nhờ bà mối họ Quách, tới nhà Tử Kiều hỏi Khuê Tú cho con.

    Quách bà tới thưa chuyện với Tử Kiều. Tử Kiều từ chối, nói rằng con cô con cậu không được lấy nhau. Nghe tin, Ký Sinh thất vọng lắm, bệnh tình càng trầm  trọng. Vân Nương rất lo cho con, nhưng không biết làm thế nào, chỉ sai bà vú tới xin với Nhị Nương cho Khuê Tú sang thăm Ký Sinh một lần. Nhị Nương nói với chồng, Tử Kiều nổi giận, mắng chửi Ký Sinh ầm ĩ, trách móc vợ chồng Quế Am không biết dạy con, rồi tuyệt giao với gia đình Quế Am. Nghe chuyện, vợ chồng Quế Am cũng đành im lặng, chỉ biết khuyên giải, chăm sóc thuốc thang cho con.

    Ba tháng sau, nhân tiết Thanh Minh, Ký Sinh thấy trong người sảng khoái, bệnh tình thuyên giảm, bèn xin cha mẹ cho đi dự hội Đạp Thanh. Cha mẹ thuận cho đi.

    Trong huyện, có gia đình họ Trương, dòng dõi vọng tộc. Ông bà Trương có 5 con gái, đặt tên theo thứ tự trước sau, từ Nhất Khả tới Ngũ Khả, người nào cũng đẹp, mỗi người một vẻ, nhưng ai cũng công nhận Ngũ Khả có nhan sắc phi thường, đẹp hơn cả 4 chị. Vương tôn công tử trong vùng đua nhau nhờ người mối lái, xin cưới Ngũ Khả, nhưng khi ông bà Trương hỏi ý thì Ngũ Khả đều từ chối, không ưng đám nào.

    Hôm ấy, nhân tiết Thanh Minh, ông bà Trương sai gia nhân giong xe cho Ngũ Khả đi dự hội Đạp Thanh, cho bà vú theo hầu. Dọc đường, thấy một nho sinh đẹp trai, cũng đi dự hội, Ngũ Khả vén rèm lên coi. Thấy thế, bà vú nói cho Ngũ Khả biết rằng nho sinh ấy là danh sĩ Vương Ký Sinh. Về nhà, bà vú thuật lại với Truơng Bà chuyện Ngũ Khả chăm chú nhìn Ký Sinh. Trương bà bèn dò ý con. Thấy Ngũ Khả lặng im, Trương bà hiểu con đã thuận, liền nói với chồng. Nghe xong, Trương ông bèn nhờ bà mối họ Vu, tới nhà Quế Am làm mối cho con.

    Hôm sau, Vu bà tới nhà Quế Am, xin được gặp chủ nhân. Thấy gia nhân canh cổng vào trình, Vân Nương vội sai ra mời khách vào sảnh đường.

    Gặp Vân Nương, Vu bà niềm nở chào kính. Vân Nương cũng niềm nở đáp lễ. Trong lúc trò chuyện, Vu bà chợt hỏi:”Công tử nhà ta vẫn mạnh khỏe chứ?” Vân Nương đáp:”Cháu bị bệnh đã từ lâu, gia đình chăm sóc thuốc thang, nhưng bệnh tình chỉ thuyên giảm chứ chưa khỏi hẳn, hiện vẫn còn nằm dưỡng bệnh trong phòng!” Vu bà cười, nói:”Lão thân biết một thầy thuốc có thể chữa được bệnh cho công tử!” Vân Nương hỏi:”Ai thế?” Vu bà cười, đáp:”Một tiểu thư!” Rồi Vu bà thuật cho Vân Nương nghe chuyện họ Trương nhờ mình tới làm mối Ngũ Khả cho Ký Sinh. Vân Nương hỏi:”Trương Ngũ tiểu thư có đẹp lắm không?” Vu bà ngạc nhiên đáp:”Ủa! Thế ra phu nhân chưa nghe thấy ai ca tụng nhan sắc Trương Ngũ tiểu thư hay sao?” Rồi Vu bà giơ chân múa tay để mô tả nhan sắc Ngũ Khả. Nghe xong, Vân Nương mừng lắm, mời Vu bà vào phòng Ký Sinh nói chuyện.

    Gặp Ký Sinh, Vu bà hỏi thăm sức khỏe rồi nói:”Lão thân nghe nói công tử bị bệnh và gia đình đã mời một thầy thuốc tới nhà chữa bệnh cho công tử, nhưng thầy thuốc ấy không chịu tới! Nay lão thân biết một thầy thuốc khác, giỏi hơn thầy thuốc của công tử nhiều, nên lão thân tới đây để giới thiệu với công tử!” Ký Sinh lắc đầu, nói:”Cháu cám ơn Bà, nhưng thầy thuốc của Bà không thể chữa được bệnh cho cháu thì mời tới làm chi?” Vu bà cười, nói:”Công tử đã biết thầy thuốc của lão thân là ai đâu mà võ đoán như thế? Công tử bị bệnh, mời thầy thuốc tới nhà chữa bệnh cho mình là đúng, nhưng nếu thầy thuốc ấy không chịu tới thì phải mời thầy thuốc khác, chứ cứ nhất định nằm chờ một thầy thuốc cho đến chết thì có phải là u mê quá hay không?” Ký Sinh khóc mà nói:”Thế nhưng trong thiên hạ không có thầy thuốc nào giỏi bằng thầy thuốc của cháu thì biết làm thế nào?” Vu bà nói:”Sao cái nhìn của công tử lại hẹp hòi đến thế?” Rồi miệng nói, tay khua, Vu bà mô tả nhan sắc Ngũ Khả, từ tóc tai, da dẻ tới thần thái, tác phong. Ký Sinh vẫn lắc đầu, nói:”Xin Bà đừng nói nữa! Cháu không dám mơ ước nhiều như thế đâu!” rồi trở mình, quay mặt vào tường mà nằm, tỏ ý không muốn nghe nữa.

    Thấy thế, Vu bà cũng bực mình, liền ra khỏi phòng, lên thuật lại cho vợ chồng Quế Am nghe. Quế Am hứa với Vu bà là sẽ khuyên con và viết thư trả lời Trương ông.

    Sau khi Vu bà cáo biệt, Quế Am vào phòng khuyên con. Thấy con không thuận, Quế Am cũng làm ngơ, không viết thư trả lời Trương ông nữa.

    Hôm sau, bệnh tình của Ký Sinh lại trở nặng.

    Đang nằm mê man, bỗng Ký Sinh thấy một tì nữ chạy vào báo:”Thưa công tử, tiểu thư mà công tử vẫn hằng thương nhớ đã tới sân nhà mình, sắp vào đây thăm công tử!” Ngỡ là Khuê Tú, Ký Sinh mừng quá, vội vàng vùng dậy, chỉnh lại áo quần, xỏ giầy chạy ra đón tiếp.

    Ra tới hành lang, Ký Sinh quả thấy một tiểu thư mặc áo gấm quần thêu, đang từ dưới sân bước lên bậc thềm. Tuy nhiên, khi tiểu thư tới gần, Ký Sinh mới biết không phải là Khuê Tú mà là một giai nhân khác, nhan sắc phi thường, miệng cười chúm chím.

    Xao xuyến trước nhan sắc phi thường ấy, thầm nghĩ chắc giai nhân không phải là người phàm, Ký Sinh vội vòng tay thi l­ễ mà hỏi: ”Phải chăng nương tử là thần tiên giáng thế? Xin cho tiểu sinh được rõ để tiện bề xưng hô!” Giai nhân mỉm cười, cất giọng oanh vàng mà đáp: ”Thiếp là Trương Ngũ Khả, cũng chỉ là một phàm nhân như công tử mà thôi! Hôm nay, thiếp tới đây để nhắc công tử một điều!” Ký Sinh hỏi: ”Xin nương tử cho biết là điều chi?” Giai nhân đáp: ”Công tử là khách đa tình mà lại dồn hết tình cảm của mình vào một người thôi thì tránh sao khỏi sự bất bình của kẻ khác?” Ký Sinh vội nói: ”Cám ơn nương tử đã mở mắt cho tiểu sinh! Vì từ trước tới nay tiểu sinh chưa từng được nhìn thấy nhan sắc nào phi thường như nhan sắc nương tử nên trong con mắt thiển cận của tiểu sinh, Khuê Tú là đệ nhất giai nhân trần thế! Nay thì tiểu sinh đã biết là mình lầm, mong được nương tử tha thứ!” Giai nhân lại mỉm cười. Hai người bèn trò chuyện rồi trở thành bạn thân, cầm tay nhau âu yếm, thề cùng chung thủy.

    Hôm ấy, thấy bệnh tình của con lại trở nặng, Vân Nương đích thân vào phòng xoa bóp cho con.

    Bị mẹ đụng vào mình, Ký Sinh tỉnh giấc mới biết là mình nằm chiêm bao. Tuy nhiên, Ký Sinh vẫn còn tưởng chừng như nhìn thấy nhan sắc giai nhân ở trước mắt, nghe thấy tiếng nói giai nhân ở bên tai.

    Thầm nghĩ nếu quả Ngũ Khả có đủ vẻ đẹp như giai nhân trong mộng thì mình chẳng cần phải đi cầu Khuê Tú làm chi, Ký Sinh bèn thuật lại giấc mộng cho mẹ nghe. Vân Nương mừng lắm, vội sai gia nhân đi mời Vu bà tới nói chuyện.

    Vu bà tới. Vân Nương nhờ Vu bà đến nhà họ Trương hỏi Ngũ Khả cho con. Vu bà nhận lời, nhưng nói phải chờ ít bữa nữa mới có dịp thuận tiện.

    Vu bà về rồi, vốn tính đa nghi, Ký Sinh lại ngờ rằng chưa chắc Ngũ Khả đã đẹp như giai nhân trong mộng! Biết bà hàng xóm phía đông nhà mình là Uông bà có quen với gia đình họ Trương, Ký Sinh vội lò dò sang nhờ Uông bà đến nhà họ Trương xem mặt Ngũ Khả giùm mình. Uông bà nhận lời.

    Hôm sau, Uông bà tới thăm Trương bà, giả như không biết chuyện giữa Ký Sinh với Ngũ Khả. Chuyện trò hồi lâu, Uông bà hỏi:”Ngũ tiểu thư vẫn được mạnh khoẻ chứ?” Trương bà đáp:”Cháu đang bị mệt, phải nằm nghỉ ở trong phòng!” Uông bà xin vào thăm. Trương bà liền dẫn vào.

    Thấy Ngũ Khả có nhan sắc cực kỳ diễm lệ, dáng vẻ cực kỳ yểu điệu, đang ngồi ở án thư, ngoẹo đầu tựa má trên bàn tay ra chiều suy nghĩ, Uông bà liền lên tiếng hỏi:”Bệnh tình tiểu thư ra sao?” Ngũ Khả chưa kịp đáp thì Trương bà đã đỡ lời con:”Cháu có bị bệnh chi đâu! Mấy hôm nay cháu hơi bực mình với cha mẹ nên hơi bị mệt đó thôi!” Uông bà hỏi:”Tiên sinh với phu nhân làm chi mà tiểu thư lại bực mình?” Trương bà đáp:”Có làm chi đâu! Chỉ vì có rất nhiều vương tôn công tử tới dạm hỏi nhưng cháu đều từ chối, chẳng ưng đám nào. Gia đình khuyên nên chọn một đám thì cháu hỏi tại sao lại muốn gả chồng cho cháu gấp thế? Đáp là muốn được nhìn thấy cháu có gia thất sớm thì cháu giận hờn, bỏ ăn bỏ ngủ mấy ngày nay!” Uông bà hỏi:”Thế tiểu thư có tỏ ý ưng ai bao giờ không?” Trương bà gật đầu, đáp:”Có!” Uông bà vội hỏi:”Thưa phu nhân, ai thế?” Trương bà đáp: ”Công tử Ký Sinh, bên tiên sinh Vương Quế Am!” Uông bà nói:”Nếu thế thì thực là đũa ngọc có đôi! Sao bên này không nhờ người tới bắn tiếng với nhà họ Vương?” Trương bà đáp:”Có! Gia đình đã nhờ Vu bà tới bắn tiếng với bên ấy rồi, nhưng công tử Ký Sinh không thuận!” Uông bà nói:”Chắc vì công tử chưa được nhìn thấy dung nhan của tiểu thư đó thôi! Nếu được nhìn thấy rồi thì lão thân dám chắc là công tử sẽ bị mê mẩn tâm hồn mà xin cha mẹ nhờ bà mối tới đây hỏi cưới tiểu thư tức khắc! Lúc đó, nếu tiểu thư mà từ chối thì lão thân dám chắc là công tử sẽ bị thất tình mà chết! Để lão thân về nói với Vương tiên sinh và phu nhân nhờ bà mối tới đây hỏi tiểu thư cho công tử. Chẳng hay gia đình ta có ưng không?” Nghe Uông bà nói, Ngũ Khả vội xua tay:”Xin Bà đừng làm thế! Lỡ ra người ta không thuận thì cháu xấu hổ lắm, rồi sẽ bị thiên hạ cười cho!” Uông bà cười, nói:”Xin tiểu thư đừng lo! Lão thân dám đoan quyết rằng lần này thế nào cả nhà họ Vương cũng đều phải ưng thuận!” Ngũ Khả mỉm cười. Uông bà bèn cáo biệt.

    Về nhà, thấy Ký Sinh đang ngồi chờ mình, Uông bà bèn tả hết vẻ đẹp của Ngũ Khả cho nghe. Tuy thấy Uông bà tả vẻ đẹp của Ngũ Khả giống hệt lời tả của Vu bà, Ký Sinh vẫn chưa tin, hỏi:”Thế Ngũ tiểu thư phục sức ra sao?” Uông bà đáp:”Tiểu thư mặc áo gấm quần thêu!” Thấy Uông bà tả giống hệt cách phục sức của giai nhân trong mộng, Ký Sinh cũng mới chỉ hơi an tâm, chứ vẫn chưa tin hẳn lời Uông bà.

    Mấy hôm sau, thấy bệnh tình của mình đã thuyên giảm, Ký Sinh bèn lén sai gia nhân đi mời Vu bà tới cho mình nhờ một việc. Vu bà tới, hỏi:”Công tử muốn nhờ lão thân việc chi?” Ký Sinh nói:”Cháu muốn nhờ Bà tìm cách cho cháu được nhìn thấy Trương Ngũ tiểu thư một lần!” Vu bà nói:”Việc này khó lắm, lão thân không dám nhận lời đâu! Nhưng thôi, công tử đã nhờ thì để lão thân cố giúp một lần xem sao! Xin công tử chờ cho ít bữa!” Nói xong, Vu bà cáo biệt.

    Ba ngày sau, không thấy Vu bà trở lại, Ký Sinh toan sai gia nhân đi mời thì chợt thấy Vu bà bước vào sân nhà mình, nét mặt tươi cười hớn hở.

    Vào phòng Ký Sinh, Vu bà nói:”Công tử may lắm! Hôm nay nhân dịp tới thăm ông bà Trương, lão thân có ghé thăm Ngũ tiểu thư! Nghe nói mấy hôm trước, tiểu thư bị se mình, nhưng hôm nay đã đỡ. Tình cờ nghe thấy tiểu thư bảo lũ tì nữ sáng mai dìu tiểu thư sang gian nhà đối diện trong sân để đổi gió, nên lão thân vội tới đây đề nghị với công tử là sáng mai, giờ thìn, công tử tới gặp lão thân ở trước cổng nhà họ Trương. Lão thân sẽ dẫn công tử vào nấp ở trong sân mà nhìn! Tiểu thư còn yếu sức, chắc sẽ đi chậm, công tử tha hồ mà ngắm!” Mừng quá, Ký Sinh cứ vâng dạ luôn miệng. Vu bà bèn cáo biệt.

    Sáng sau, Ký Sinh sai gia nhân đem ngựa cho mình cưỡi tới trước cổng nhà họ Trương thì thấy Vu bà đã đứng ở đó.

    Vu bà vội bảo Ký Sinh đem ngựa ra gốc cây đằng xa mà buộc, rồi dẫn Ký Sinh lẻn qua cổng, vào căn nhà ngang ở cạnh sân, bảo đứng nấp sau cánh cửa, rồi Vu bà lên phòng Ngũ Khả.

    Lát sau, Ký Sinh thấy một tiểu thư vịn vai hai tì nữ, từ trong phòng bước ra sân, có Vu bà theo sau. Từ chỗ nấp, Ký Sinh dán mắt nhìn qua khe cửa.

    Trong khi tiểu thư cất bước, Vu bà cứ lấy tay chỉ trời, chỉ đất, cốt để cho tiểu thư nhìn theo tay mình mà chậm bước lại. Thấy tiểu thư giống hệt giai nhân trong mộng, Ký Sinh mừng quá, run rẩy cả người, mơ hồ như mình đang nằm chiêm bao.

    Khi tiểu thư đã vào nhà, Vu bà bèn lẻn tới chỗ Ký Sinh nấp, hỏi:”Công tử thấy thế nào? Tiểu thư Ngũ Khả có thể thay được tiểu thư Khuê Tú chăng?” Ký Sinh vội gật đầu, đáp:”Dạ, thưa Bà được! Cháu xin cám ơn Bà!” Vu bà bèn dẫn Ký Sinh lẻn ra cổng. Ký Sinh vội tới gốc cây, tháo ngựa ra về.              

    Tới nhà, Ký Sinh thưa chuyện với cha mẹ. Vợ chồng Quế Am bèn nhờ bà mối họ Quách đến nhà họ Trương hỏi Ngũ Khả cho con.

    Hôm sau, khi Quách bà đến nhà họ Trương hỏi Ngũ Khả cho Ký Sinh thì Trương ông cho biết là đã nhận lời gả Ngũ Khả cho đám khác rồi. Không biết nói chi thêm, Quách bà xin cáo biệt, tới nhà Quế Am thuật chuyện.

    Nghe chuyện, Ký Sinh thất vọng lắm, bệnh cũ lại phát tác. Vừa buồn cho con, vừa bực vì con, vợ chồng Quế Am lên tiếng trách:”Con trai gì mà hèn quá thế? Sao chẳng có chút nghị lực nào vậy?” Ký Sinh chỉ im lặng.

    Từ hôm ấy, mỗi ngày Ký Sinh chỉ húp một chút nước cháo để cầm hơi.

    Ba tháng sau, thân hình Ký Sinh chỉ còn da bọc xương, trông tiều tụy hơn lần bệnh trước nhiều.

    Một hôm, Vu bà tới thăm vợ chồng Quế Am. Sau khi trò chuyện, Vu bà xin phép vào thăm Ký Sinh. Vân Nương dẫn Vu bà vào phòng Ký Sinh rồi trở ra.

    Thấy Ký Sinh, Vu bà kinh ngạc, hỏi:”Sao công tử lại tiều tụy hốc hác quá thế?” Ký Sinh bèn oà lên khóc rồi thuật lại lý do cho Vu bà nghe. Vu bà cười, nói: ”Công tử si tình quá lắm! Thế nhưng lỗi là lỗi ở công tử chứ đâu có phải là lỗi ỏ người ta? Trước kia người ta chạy theo công tử thì công tử hắt hủi! Bây giờ công tử lại đi cầu người ta thì người ta tự ái, đâu có thể ưng thuận ngay được? Tuy nhiên, lão thân thấy việc này vẫn còn hy vọng!” Ký Sinh vội hỏi:”Thưa Bà, liệu còn chút hy vọng nào không?” Vu bà nói:”Còn! Tại công tử đi nhờ Quách bà chứ nếu công tử nhờ lão thân thì việc này xong từ lâu rồi! Công tử mà nói cho lão thân biết sớm thì dù cho Trương Ngũ tiểu thư đã hứa hôn với hoàng tử con vua, lão thân cũng vẫn giật lại được cho công tử!” Mừng quá, Ký Sinh vội hỏi:”Thế bây giờ cháu phải làm chi?” Vu bà cười, đáp:”Công tử thì làm chi được? Phải có lệnh tôn đứng ra cầu hôn cho thì việc mới thành!” Ký Sinh vội nói:”Thế thì xin Bà làm ơn lên nói với cha cháu giùm! Cháu xin cám ơn Bà!” Vu bà gật đầu.

    Ký Sinh dẫn Vu bà lên gặp cha.

    Gặp Quế Am, Vu bà nói:”Thưa tiên sinh, bây giờ xin tiên sinh viết thư cho Trương ông, xin ngày mai tới gặp để bàn chuyện hôn nhân cho công tử với Ngũ tiểu thư, rồi sai gia nhân đem thư đi ngay cho!” Quế Am nói:”Trương ông đã nhận lời gả Ngũ tiểu thư cho đám khác rồi mà!” Vu bà nói:”Vì không thấy tiên sinh trả lời nên Trương ông mới nhận lời gả Ngũ tiểu thư cho đám khác! Tuy nhiên, lão thân biết Trương ông mới nhận lời suông thôi, chứ chưa viết hôn ước!” Quế Am nói:”Nhưng trước kia bản nhân đã quên không trả lời Trương ông nên e Trương ông vẫn còn giận. Bây giờ nếu lại đường đột xin tới gặp thì e Trương ông càng giận mà từ chối!” Vu bà nói:”Tuy Trương ông có giận tiên sinh thực, nhưng lão thân thấy Trương ông chiều con lắm, thế nào cũng hỏi ý con chứ không tự ý từ chối đâu! Ngạn ngữ có câu Ai nấu trước, ăn trước! Vậy xin tiên sinh cứ thử viết thư xem sao, việc chi mà ngại?” Thấy Vu bà nói có lý, Quế Am bèn nghe lời, lấy giấy bút ra viết một bức thư, rồi sai hai gia nhân đem thư tới nhà Trương ông.

    Trương ông mở thư ra coi, đi hỏi ý Ngũ Khả, rồi phúc thư, đưa cho hai gia nhân cầm về.

    Quế Am mở phúc thư ra coi, thấy Trương ông thuận cho mình hôm sau tới gặp để bàn chuyện hôn nhân cho con thì mừng lắm, thưởng tiền cho Vu bà. Vu bà cũng mừng, nhận tiền rồi xin cáo biệt.

    Hôm sau, Quế Am tới nhà Trương ông xin hỏi Ngũ Khả cho Ký Sinh. Mọi việc đều êm xuôi rồi hai bên cùng ấn định ngày hỏi, ngày cưới. Thấy việc đã thành, Ký Sinh mừng lắm, khỏi hẳn bệnh rồi quên luôn Khuê Tú.           

    Lại nói về gia đình họ Trịnh.

    Khi thấy cha tuyệt giao với gia đình cậu, Khuê Tú buồn lắm, nhưng vẫn nuôi hy vọng là sẽ có ngày mình được làm vợ Ký Sinh. Nay nghe tin Ký Sinh sắp thành hôn với người con gái thứ 5 của gia đình họ Trương, Khuê Tú đâm ra tuyệt vọng. Vì uất ức với cha, Khuê Tú nhuốm bệnh, suốt ngày cứ hoảng hốt như kẻ bị ma làm, thân hình mỗi ngày một tiều tụy. Ông bà Trịnh hỏi lý do thì Khuê Tú không dám nói sự thực, chỉ trả lời là không biết tại sao. Ông bà bèn mời thầy thuốc tới nhà chữa bệnh cho con, nhưng bệnh của Khuê Tú vẫn không thuyên giảm.

    Một hôm, một tì nữ biết tâm sự của Khuê Tú, bèn lên thưa với Nhị Nương. Nhị Nương nói lại với chồng. Tử Kiều giận lắm, nói:”Nếu thế thì đổ thuốc đi, không cho nó uống nữa! Ta sẵn sàng ngồi chờ tin nó chết!” Thấy chồng nói thế, Nhị Nương oán hận lắm, nói:”Ký Sinh là cháu trai bên ngoại! Y cũng chẳng xấu xa gì! Tại sao chàng cứ giữ cái hủ tục là con cô con cậu không được lấy nhau để giết con mình?” Tử Kiều càng giận, nói:”Sanh con như thế thì chỉ tổ để thiên hạ cười cho thôi! Thà để cho nó chết đi còn hơn là để cho nó sống!” Vì thế mà hai vợ chồng cứ  hục hặc với nhau.

    Thương con quá, Nhị Nương nảy ý riêng.

    Một hôm, Nhị Nương vào phòng con, nói dò ý:”Ký Sinh có cưới vợ thì cũng chẳng sao! Mẹ sẽ gả con cho y làm vợ lẽ!” Khuê Tú chỉ im lặng. Nhị Nương bèn hỏi lại:”Con có ưng làm vợ lẽ Ký Sinh không?” Khuê Tú gật đầu. Nhị Nương ra nói lại với chồng. Tử Kiều giận lắm, nói:”Thôi! Bây giờ ta giao hẳn nó cho nàng! Ta coi như nó đã chết rồi, không muốn nghe ai nói tới nó nữa!” Nhị Nương lại đem lời chồng vào thuật cho con nghe. Thấy cha giao mình cho mẹ, Khuê Tú mừng lắm, rồi bệnh khỏi dần.

    Vào sáng ngày cưới của Ký Sinh với Ngũ Khả, Nhị Nương sai hai tráng nô sang thưa với Quế Am rằng mình muốn sang dự đám cưới cháu.

    Vốn quý em gái, nay lại thấy em gái muốn sang dự đám cưới con mình, Quế Am mừng lắm.

    Thấy nhà em gái ở gần nhà mình, mà nhà mình đang có sẵn cỗ xe ngựa đón dâu, Quế Am liền sai gia nhân giong cỗ xe ấy đi đón em gái.

    Khi xe tới, Nhị Nương sai hai tráng nô khiêng một cuốn thảm lớn lên xe, bảo hai bà vú lấy y phục cô dâu mặc cho Khuê Tú, lấy khăn lụa đỏ choàng lên đầu Khuê Tú, phò Khuê Tú theo mình lên xe, rồi bảo gia nhân nhà Quế Am đánh xe về.

    Tới nơi, Nhị Nương sai hai tráng nô trải thảm từ bậc xe tới cửa sảnh đường, rồi bảo hai bà vú dìu Khuê Tú xuống, theo mình bước lên thảm mà vào.

    Thấy trong sảnh đường có sẵn ban nhạc, Nhị Nương liền bảo các nhạc công cử nhạc. Ngỡ là nhà gái đưa dâu tới sớm, các nhạc công nổi trống kèn inh ỏi, vang động khắp nhà.

    Đang ở trong phòng, nghe thấy tiếng trống kèn ngoài sảnh đường, Ký Sinh kinh hãi quá, không hiểu tại sao nhà gái lại đưa dâu tới trước giờ ấn định, bèn chạy ra coi.

    Ra tới nơi, thấy cô dâu đã phục sức lộng lẫy, choàng đầu bằng khăn lụa đỏ, còn mình vẫn ăn mặc lôi thôi, Ký Sinh vội quay vào phòng để thay y phục.

    Nhìn thấy Ký Sinh quay gót, Nhị Nương vội sai hai tráng nô chạy theo, kéo lại. Thấy Cô trong sảnh đường, ngỡ rằng Cô sang sớm để dự l­ễ cưới của mình, Ký Sinh mừng lắm. Bỗng thấy Cô bảo mình phải làm lễ­ giao bái ngay với tân nương, ngỡ rằng Cô đã được cha mẹ nhờ điều khiển buổi lễ, Ký Sinh vội tuân lời mà làm lễ giao bái.

    Lễ xong, Nhị Nương dìu Khuê Tú ngồi xuống chiếc ghế cô dâu, mở khăn choàng đầu ra. Khi nhìn thấy cô dâu là Khuê Tú chứ không phải là Ngũ Khả, Ký Sinh mới vỡ lẽ, sững sờ kinh ngạc.

    Nghe tiếng trống kèn nổi lên quá sớm, mọi người trong nhà đều lấy làm lạ, rủ nhau lên sảnh đường coi.

    Khi biết rõ sự tình, mọi người đều kinh hãi, rối loạn cả lên, không biết phải làm thế nào. Quế Am thì cứ nhìn em gái mà khóc dở mếu dở, muốn vui cũng không được mà muốn giận cũng không xong. Mọi người đua nhau bàn ra tán vào.

    Đến tối, tới giờ đón dâu, Quế Am không dám cho con đi đón dâu nữa, chỉ sai gia nhân tới nhà họ Trương trình bày sự thực.

    Nghe chuyện, Trương ông giận lắm, muốn tuyệt giao với nhà họ Vương. Ngũ Khả không chịu, nói với cha:”Kẻ kia tuy tới trước, nhưng chỉ là cô dâu giả chứ không phải là cô dâu thực! Con mới là cô dâu thực! Vậy tại sao Cha không bảo nhà trai cứ tới đón dâu?” Thấy con gái nói có lý, Trương ông đành vuốt giận làm lành, sai gia nhân tới nói với nhà họ Vương cứ cho xe đến đón dâu. Quế Am gật đầu ưng thuận nhưng khi gia nhân nhà Trương ông về rồi thì Quế Am lại trù trừ, không dám làm theo lời nhà gái. Chờ mãi không thấy nhà trai cho xe đến đón dâu, Ngũ Khả biết rằng nhà trai đã làm ngơ, bèn thưa với cha:”Cha cứ cho xe ngựa nhà mình đưa dâu tới nhà trai!” Nghe lời con gái, Trương ông sai gia nhân giong xe ngựa, đưa con gái tới nhà họ Vương.

    Tới nơi, gia nhân nhà họ Trương tự ý tìm một phòng trống, đưa Ngũ Khả vào ngồi rồi lanh tay lẹ chân biến phòng ấy thành phòng đón dâu. 

    Thấy xe ngựa nhà gái đưa Ngũ Khả tới, Ký Sinh cứ luýnh quýnh chạy ra chạy vào, không biết phải làm thế nào.

    Thấy hoàn cảnh trớ trêu, Vân Nương bèn dắt Khuê Tú vào phòng Ngũ Khả để điều đình cho Ký Sinh được cưới cả hai người, ai lớn tuổi thì làm chính thất. Bị dồn vào thế khó xử, Ngũ Khả đành phải ưng thuận. Thế nhưng, khi so tuổi, thấy Khuê Tú hơn mình một tuổi, Ngũ Khả lại tỏ vẻ khó chịu. Tuy nhiên, vì đã trót ưng thuận Ngũ Khả đành phải làm vợ lẽ.

    Vân Nương lo lắm, nhưng cũng ra bảo Ký Sinh phải vào phòng làm lễ giao bái với Ngũ Khả. L­ễ xong, gia nhân nhà họ Trương đánh xe ra về.

    Thấy Khuê Tú chững chạc, đàng hoàng mà lại hiền lành, thùy mị, Ngũ Khả cũng bắt đầu có cảm tình. Vì thế, mỗi lúc Ngũ Khả một thêm thân thiện với Khuê Tú rồi mọi chuyện đều êm xuôi.

    Ba ngày sau. Tự nghĩ mình có bổn phận phải làm cho hai con dâu hòa thuận với nhau, Vân Nương cho gọi cả Khuê Tú và Ngũ Khả vào phòng mình nói chuyện. Khi thấy hai con dâu rất thân thiện với nhau, Vân Nương hết sức ngạc nhiên. Vân Nương đem chuyện thân thiện giữa hai con dâu ra khoe với chồng, nhưng Quế Am vẫn dè dặt, nói rằng lâu dần rồi thế nào cũng có chuyện xích mích.

    Ba tháng sau, thấy hai con dâu không những không xích mích mà lại quý mến nhau như chị em gái, Quế Am cũng phải ngạc nhiên.

    Một hôm rảnh rỗi, Ký Sinh hỏi riêng Ngũ Khả:”Trước kia, nàng đã biết Quách bà sắp tới hỏi nàng cho ta, sao nàng còn đi nhận lời đám khác?” Ngũ Khả cười, đáp:”Có nhận lời đám nào đâu?” Ký Sinh hỏi:”Thế sao thân phụ nàng lại nói với Quách bà là đã nhận lời đám khác rồi?” Ngũ Khả đáp:”Vì thiếp muốn báo thù chàng!” Ký Sinh hỏi:”Thù chi?” Ngũ Khả đáp:”Thù việc chàng đã từ chối lời đề nghị của bà mối họ Vu! Khi chàng chưa nhìn thấy thiếp thì chàng chỉ mê có một mình Khuê Tú nên thiếp ngờ rằng chàng vẫn mê Khuê Tú hơn thiếp! Vì thế, thiếp muốn cân xem tình cảm của chàng đối với Khuê Tú nặng nhẹ ra sao! Thấy Khuê Tú đã làm cho chàng bị ốm tương tư, thiếp thầm nghĩ nếu mình không làm được như thế thì cũng chẳng nên ép chàng cưới mình! Vì thế, thiếp mới thưa với cha mẹ rằng nếu gia đình chàng có nhờ bà mối tới hỏi thì cứ nói dối là đã nhận lời gả thiếp cho đám khác rồi!” Ký Sinh cười, nói:”Nàng báo thù ác quá! May nhờ có Vu bà giúp đỡ nên ta mới được thấy nhan sắc nàng!” Ngũ Khả nói:”Chẳng phải là Vu bà đã giúp đỡ được chàng đâu! Chính thiếp đã bày ra việc Vu bà dẫn chàng tới nhà thiếp đó! Lúc thiếp vịn vai tì nữ bước qua sân, thiếp đã biết rõ là chàng đang nấp trong nhà ngang dòm trộm!” Lúc đó, Ký Sinh mới vỡ lẽ.

    Ngũ Khả lại hỏi:”Tại sao chàng đã nằm mộng thấy thiếp rồi mà vẫn chưa tin, phải nhờ Vu bà tìm cách cho nhìn thấy thiếp?” Kinh ngạc quá, Ký Sinh hỏi: ”Sao nàng lại biết được chuyện ta nằm mộng thấy nàng?” Ngũ Khả đáp:”Vì khi thiếp bị bệnh, thiếp nằm mộng thấy mình tới nhà chàng để làm vợ lẽ! Sau đó thiếp lại nghe nói chàng cũng nằm mộng thấy thiếp nên thiếp rất ngạc nhiên! Suy đi nghĩ lại, thiếp tin rằng hồn thiếp đã lìa khỏi xác để tới nhà chàng!” Nghe chuyện, Ký Sinh càng kinh ngạc, rồi thuật lại giấc mộng của mình cho Ngũ Khả nghe. Hai người bèn so ngày giờ nằm mộng thì thấy ngày giờ trùng nhau.

    Từ đó, Ký Sinh, Khuê Tú và Ngũ Khả chung sống với nhau cực kỳ tương đắc, cho đến hết cuộc đời.

    Vì cha con Vương Quế Am cùng nhờ giấc mộng mà có được lương duyên nên bản nhân mới lấy làm lạ mà chép chuyện cả hai cha con vào tập truyện này.

     

    Đàm Quang Hưng

    (11/10/2014)
  • TTVDDT 19 - Phần 17
    TTVDDT 19 - Phần 17

     

    Truyện dài

    Doãn Quốc Sỹ

    Dòng Sông Định Mệnh

     

     

     

    Chương 1

     

    Khúc quành của dòng sông

     

    Ô-tô từ Hà Nội đến quãng đầu tĩnh Bắc Ninh thì có một con đường đá rẽ về tay phải: đường 21. Đi sâu vào con đường đó - đi chân, đi xe đạp, đi xích lô hay đi xe hàng nhỏ nhỉnh hơn xe tắc xi một chút - chừng mười hai cây số thì gặp con sông Đuống nước đỏ ửng có bến phà.

    Làng Thiệu được bà Ba giao cho trọng trách trông nom "em Yến" khi đi, khi ở trường, và khi về.

    Khi đi khi về, Thiệu làm đầy đủ bổn phận; nhưng khi ở trường - nghĩa là trong giờ ra chơi - thì không bao giờ Thiệu nhớ đến Yến. Thiệu ham chơi lắm, còn mải đánh khăng, đánh bi, đánh đáo hay đá bóng.

    Con sông Đuống mùa nước cạn trông thật chán phè - Thiệu nghĩ như vậy - nhưng Thiệu cũng không quên rằng nhờ có mùa cạn này Thiệu mới dám xuống nước để tập bơi một mình. Năm lên bảy, một hôm Thày đưa Thiệu ra sông tắm, thấy Thiệu bơi mà ngạc nhiên.

    Khi về Thày nói với Mẹ:

    - Nó bơi giỏi như con nhà thuyền chài ấy mẹ nó ạ.

    Vào mùa nước, Thiệu thích đi dọc theo con đê làng ngắm cảnh sông nước mênh mông. Mỗi khi ngắm như vậy Thiệu thấy quên hết những thứ mà Thiệu vẫn thích: đánh bi, đánh khăng, đánh đáo, đá bóng. Thiệu thấy hình như mình buồn rầu thì phải, nhất là khi ngắm khúc quành của con sông ở tít phía xa, trước khi cả dòng sông mất húy sau một lũy tre mờ mờ, có một cây đa vươn lên cũng mờ mờ. Về nhà hỏi Mẹ, Thiệu mới biết đó là làng Thái Lung-Thượng. Khi nghe Mẹ kể chuyện Thạch Sanh thì Thiệu đồ rằng có lẽ cây đa làng Thái Lung -Thượng là cây đa của Thạch Sanh ngày xưa. Đến khi nghe chuyện Phạm Công Cúc Hoa, Thiệu lại đồ rằng tại bãi tha ma bên kia bến phà hẳn là đêm đêm vẫn có những cảnh mẹ hiện hồn lên cho con bú như Cúc Hoa đã hiện hồn với hai con.

    Thiệu nghĩ bụng: giá sau này Mẹ có chết, rồi chôn ở ngoài đồng, đêm đến Thiệu ra ngồi bên mả khóc thì thế nào Mẹ cũng hiện lên, Mẹ cũng ôm Thiệu, vuốt tóc Thiệu và lúc trời sắp sáng thế nào mà Mẹ chẳng đánh lừa: "Con hãy cúi xuống để Mẹ bắt chất cho con!" Thiệu sẽ không cúi xuống mà nắm lấy vạt áo Mẹ. Không hiểu làm thế Mẹ có sống lại không nhưng nhất định là Mẹ không biến vào mồ được rồi.

    Yến đi học cùng Thiệu được hai tháng thì một buổi sáng chủ nhật kia Yến theo Thiệu ra đê ngắm sông.

    Thiệu lại nói với Yến:

    - Sông mùa cạn trông chán phèo!

    Khúc quành đằng xa nhỏ hẳn đi, Thiệu chỉ cho Yến thấy lũy tre cùng cây đa và bảo: "Đấy là làng Thái Lung-Thượng." Thiệu lõm bõm kể cho Yên nghe chuyện Thạch Sanh và kết luận: "Dưới gốc đa làng Thái Lung-Thượng cố nhiên là ngày xưa có Thạch Sanh."

    Yến hỏi:

    - Thế làng mình cũng có cây đa, sao ngày xưa Thạch Sanh lại không ở?

    Thiệu gạt đi:

    - Mình có phải là người cùng làng với Thạch Sanh đâu. Thạch Sanh ở làng khác chứ, càng xa càng hay, mà làng Thái Lung - Thượng xa nhất lại cách sông nữa thì Thạch Sanh phải ở đấy chứ.

    Lúc bấy giờ Yến mới gật đầu cho là phải. Buổi chiều, Thiệu dạy Yến bơi ở gần bến phà. Thiệu buộc túm hai ống quần và cạp quần để khi dìm xuống nước, cả cái quần phồng lên như bong bóng, Yến nắm lấy quần, úp mặt xuống, hai chân đập tầm phòng trên mặt nước. Một tuần sau Yến đã võ vẽ bơi một mình được.

    Thiệu, Yến chỉ tắm khoả thân trong mùa nước cạn năm đó.

    Hai năm sau, Thiệu, Yến vẫn cùng đi học trường làng. Thiệu học lớp Nhì, mà yến thì theo lớp Ba, cuối năm thi "Sơ học yếu lược." Sáng hôm đó Thiệu mặc quần đùi thâm và chiếc áo trúc bâu mới, lên đê ngắm dòng sông đang mùa nước. Lẽ ra theo ý Thày, Thiệu không được mặc áo mới đi chơi, nhưng Mẹ bảo: "Ông cứ để nó mặc cho nhàu hồ đi rồi tôi giặt."

    Xuống đến bến phà, Thiệu gặp Yến. Yến đương đứng trên cầu nổi, tay cầm que tinh nghịch cời những hoa, những quả, những cành củi trôi lướt theo dòng sát bên cầu nổi. Lúc đó phà đã sang bên kia sông và ở bên này chưa có ai tới đợi.

    Yến hỏi:

    - Thiệu đi đâu đấy?

    Thiệu thò tay vào túi áo trúc bâu mới, vây vo:

    - Đi lên đê ngắm sông.

    Chỉ một thân chuối lớn đương lững thững từ xa trôi lại, Thiệu hỏi:

    - Đố Yến thân chuối kia có trôi vào khoảng hoắm của bến này không nào?

    Yến nghiêng đầu ngắm rồi đáp:

    - Chắc là có, nếu không Yến lấy que cời vào.

    Vừa lúc đó có quả gì như quả bưởi lướt qua gần bên ngoài.

    Yến reo:

    - Để Yến cời quả này vào đã!

    Yến hơi kiễng chân vươn người về phía trước và khom lưng để gạt quả bưởi, bất chợt mất thăng bằng ngã tòm xuống nước. Yến chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi bị cuốn theo dòng ngược chiều chảy sát bờ, chân đạp cuống quít trên mặt nước cố cho thân nổi lên.

    Trong một thoáng rất nhanh, Thiệu nhớ ra rằng khi mức sông lên cao, khoảng hoắm này nước vẫn chảy thành vòng tròn. Nhưng ủa, không thể nghĩ lan man hơn được, Yến đang bơi vụng dại theo dòng sát bờ. Thiệu nhảy phăng xuống đón ngay cây chuối vừa giạt vào, đẩy ngay cây chuối ngược chiều nước men bên dòng chính, phía ngoài cùng.

    Phải bơi nhanh, phải đẩy mạnh, mình là đàn ông mà - Thiệu nghĩ - để khi Yến theo dòng bên trong quành ra tới dòng ngoài thì đã có cái víu. A lê hấp, veo! Cây chuối đã được đẩy tới lần thứ năm và lao ra trước Yến đúng một sải tay. Khi Yến víu được cây chuối, Thiệu cũng vừa bơi tới. Thiệu phải bơi sát cây chuối và luôn luôn ẩn cây chuối vào để Yến khỏi lạng ra dòng ngoài. Khi cả hai đều đã leo lên cầu nổi, Yến nhìn Thiệu nhoẻn miệng cười, không biết nói cám ơn.

    Thiệu đưa mắt nhìn dòng sông bên ngoài màu nước đỏ hung dữ như mặt người say rượu có chút máu điên, rất nhiều chỗ ngầu bọt trắng như màu nước dãi phòi ở mép bác cu Tý trong làng mỗi khi bác lên cơn ngất, tay chân giãy đành đạch (mãi về sau này Thiệu mới biết rằng bác Tý mắc bệnh động kinh).

    Làm vẻ rất nghiêm trọng. Thiệu hất hàm hỏi mà không nhìn yến:

    - Yến có trông thấy dòng sông bên ngoài không? Giá không nhanh tay đầy cây chuối kịp, Yến mà lạng người ra ngoài kia thì có thánh cũng không cứu được.

    Không thấy Yến trả lời, Thiệu nhìn lại thấy vẻ mặt Yến lo lắng. Yến chỉ vào quần áo ướt sũng của mình:

    - Làm thế nào về nhà được? Mẹ đánh chết!

    Lúc bấy giờ Thiệu mới sực nhớ mình cũng sũng nước. Ôi thôi, chiếc áo trúc bâu mới may nay thành màu hồng xỉn, lại thêm mấy khoảng hoen ố lớn do nhựa chuối quệt vào. Nhưng chuyện mình hãy gác đấy, còn tính sao cho Yến đã chứ.

    Thiệu bảo:

    - Yến hãy theo Thiệu lên đê, sắp có người lại đợi phà rồi đó.

    Thiệu bước ra khỏi cầu nổi leo nhanh lên khoảng vệ đê có mấy cây nhãn cao và mấy cây duối dại thấp. Yến cũng thoăn thoắt lên theo.

    Thiệu hỏi:

    - Thế bây giờ Yến bảo phải làm thế nào?

    Yến nói:

    - Sáng nay mẹ Yến phơi bộ quần áo thay của Yến ở giây thép ngoài vườn.

    Thiệu cam kết:

    - Để Thiệu về lấy cho.

    Thiệu cởi phăng chiếc áo trúc bâu hung hung đỏ treo lên một cành duối. Thế là Thiệu cởi trần chỉ còn mặc chiếc quần đùi ướt sũng và nói:

    - Thiệu sẽ chui vào vườn lấy trộm quần áo mang đây cho Yến.

    Yến giao hẹn:

    - Thiệu nhớ là quần đen, áo tím nhạt kẻ vuông.

    Thiệu đã sắp sửa chạy về trổ tài, Yến còn hỏi:

    - Thế nhưng Thiệu vào vườn nhà Yến bằng lối nào?

    Thiệu để ngón tay trỏ lên miệng, bí mật:

    - Có một lối Thiệu vẫn chui vào để nhặt những quả mận quả ổi rơi.

    Thiệu nói là " nhặt những quả rơi" cho lịch sự kỳ thực chính Thiệu leo lên, tuốt vội từng chùm quả, bỏ vội vào túi, rồi tuột vội xuống, lủi ra.

    Cũng may mà đi suốt trên đường từ bến cho tới khi vào vườn Thiệu không gặp Thày, Mẹ hoặc các anh chị. Thiệu vừa chui lọt vào hàng rào dâu bụt, chưa kịp đứng thẳng người, đã có tiếng quát, tiếng của bà Ba:

    - A ... a! Ông tướng Thiệu! Có phải ông chui vào định ăn trộm ổi của nhà tôi để tôi chạy sang nhà mách nào!

    Rất nhanh trí - Thiệu cũng không hiểu sao lúc đó mình nhanh trí đến thế - Thiệu đáp:

    - Thưa bác, cháu tìm con quay của cháu văng vào đây.

    Rồi Thiệu làm vẻ vạch cỏ hàng rào chăm chú tìm. Khi bà Ba vào, Thiệu đưa mắt nhận ngay ra chiếc quần và chiếc áo tím kẻ ô của Yến. Chỉ một loáng, Thiệu đã lướt tới quơ được cả hai và lủi ra khỏi hàng rào. Qua cổng nhà mình Thiệu thấy bóng chị Hoa, Thiệu nhảy vội xuống vệ đường khom lưng lại. Chị Hoa không thấy Thiệu. Ra tới bờ sông khi đã đưa quần áo cho Yến thay, Thiệu cũng biết quay đi. Thiệu đã lên mười, Yến lên tám rồi còn gì.

    Yến về, Thiệu cởi nốt quần đùi phơi lên bụi duối rồi nằm lẩn trong một bụi cây chờ cho quần áo khô. Thiệu len lén vào ngõ, chị Hoa trông thấy trước, giơ cả hai tay lên giời:

    - Thôi thế là tong đời cái áo mới rồi, ông mãnh!

    Nhưng nước mắt chị bỗng chảy quanh vì chị thấy Thày quắc mắt rồi nhìn quanh, ý tìm roi. Thiệu không lên nhà trên sợ gần nhà Yến quá. Thiệu lảng thẳng xuống bếp, chỉ vừa kịp đến đứng sau cối xay lúa, Thày đã tới và quất ngang đít Thiệu ba roi cật lực. Thiệu đã nghiến răng mà tuy vậy mỗi roi nhận được vẫn còn phải thốt ra câu:

    - "Con lạy Thày!" - Nhưng rất khẽ.

    Anh Tín - anh trưởng - còn hùn thêm:

    - Thày cứ đánh nữa cho từ sau nó chừa. Đúng là ngã xuống bến phà đây...

    May sao Mẹ đã xuống, Mẹ vừa thay quần áo khác cho vừa nói:

    - Còn ham chơi, còn chết đòn con ạ. Làm sao mà khổ thế, thân lừa ưa nặng!

    Mọi người đã vào mâm cơm trưa. Thiệu hoàn toàn yên lòng: cha, mẹ, anh, chị mắng thế là xong, may là Thiệu tinh ý xuống ngay bếp. Từ bếp cách một khoảng nhà trên, cách một cái vườn rồi mới đến nhà Yến, chắc yến không nghe thấy. Thiệu cho việc này giữ kín đáo như thế là phải, không nên để Yến thắc mắc điều gì.

    Buổi chiều hôm đó, chú Hai ở Hà Nội về chơi mua quà riêng cho Thiệu một bánh sô cô la lớn gồm nhiều thỏi nhỏ bọc giấy thiếc. Thiệu lấy ra một thỏi và tìm Yến, bẻ đưa cho Yến một nửa. cả hai cùng ăn ngon lành lắm. Khi ăn xong, Thiệu thấy bên mép Yến có một vệt sô cô La màu nâu xẫm. Thiệu thích vệt đó lắm, thành thử cứ mỗi lần lấy ra một thỏi sô cô la khác, Thiệu phải đi tìm Yến bằng được, bẻ cho Yến một nửa - nhiều khi quá nửa - để được thấy lại vệt sô cô la đọng bên mép Yến.

     

    (Còn tiếp)

    (11/10/2014)
  • TTVDDT 19 - Phần 16
    TTVDDT 19 - Phần 16

     

     

    TÌNH HIỀN

     

     

     

     

     

     

    Lời Tác Giả.....

     

    Đọc “Tình Hiền”, để thấy hoàn cảnh của trung-úy Vũ đã phải trải qua bao đau đớn xót xa khi mất cả hai chân trong trận chiến Hạ Lào, để rồi Hiền, người con gái trường Luật, người yêu của Vũ, trước hà khắc cấm đoán của gia đình, nhất là sau khi Vũ bị thương, Hiền đã phải bỏ nhà ra đi, để lại sau lưng tất cả, kể cả ngôi trường thân yêu và một tương lai đầy hứa hẹn để theo Vũ.

    Trước một tình yêu chân chất, mặn nồng và tuổi thơ đó, Hiền sẽ phải làm gì để đương đầu với sự chống đối hà khắc của gia đình, cùng với những mặc cảm và tâm lý bất ổn của Vũ sau khi bị cụt cả hai chân vì chiến trận.....

    Rồi những biến chuyển của thời sự nghiệt ngã và những đổ vỡ dồn dập năm 75, từ sức mạnh nào đã giúp Hiền, một cô gái trường Luật thơ ngây, cô thân cô thế, có thể đưa Vũ qua bến bờ tự do???

    Đọc “Tình Hiền” để thấy tình yêu của những người con gái vì yêu lính trận, đã sẵn sàng cam chịu tất cả thiệt thòi để một đời chao đảo trong đợi chờ chất lũy... Nhất là sau năm 75, bao nhiêu người lính đã phải trải dài trong những trại tù cải tạo, những người vợ có còn yêu, còn chờ đợi, hay lại bị đưa đẩy vào những bi ai, để rồi nhắm mắt đưa chân theo vận số...

    “Tình Hiền” là sự kết hợp một truyện tình bi ai trước và sau năm 1975, nhất là những chuỗi ngày dài tha hương, những trăn trở và những mỏi mòn của Vũ, của Hiền của Tuyết và của Viết, cùng bao bao người bạn đã phải tìm mình trong khắc khoải hàng đêm, hầu vượt thoát giữa những dị biệt về ngôn ngữ, văn hóa và những khắc khoải mòn mỏi nhớ về, cùng biết bao chứng tích nhãn tiền nghiệt

    ngã từ chiến tranh vẫn còn vương đọng, lúc nào cũng triền miên xoáy mòn trong cùng tâm thức của những thân phận lỡ thời vận mất.

    Đứng trước những vồ vập đưa đẩy, nhất là những dồn dập vật chất của đời sống mới, một cuộc đời hoàn toàn mới lạ, Hiền đã sống thế nào trước những khó khăn ngút ngàn đó để săn sóc, bảo vệ tình yêu của mình trước mặc cảm của Vũ càng ngày càng chồng chất. Hiền có còn đủ can đảm và nghị lực trước đổi thay để giữ được “Tình Hiền” của những ngày Sàigòn nắng ấm, những ngày mà Hiền bên Vũ trẻ thơ trên những dải đường ngập bóng, nô nức tiếng cười non, với đôi môi mát rượi, cùng mái tóc chảy dài như những nồng ấm dịu dàng thương yêu vô bờ.....

     

    Hà Lạn

     

     

     

    Tình Hiền

     

    Chương Một

     

    Hiền lơ đãng nhìn ra ngoài trời, bầu trời đang bị bao phủ bởi những mảng mây lớn, gió thổi mạnh từng cơn, những lùm cây trước nhà đưa đẩy vật vờ theo luồng gió. Phải chăng đời con gái cũng theo và tuỳ thuộc như người đời thường nói:

    Thân em như tấm lụa đào,

    Phất phơ trước gió biết vào tay ai.

    Nhưng hình ảnh Vũ vẫn chiếm trọn trong Hiền. Hiền không ân hận dù bị ba mẹ ép mắng trước tình yêu ngọt ngào trọn vẹn với Vũ. Hiền chỉ lo vì một xếp đặt khôn khéo khiến Hiền chẳng đừng phải vâng lời để lấy Tân, con một người bạn của gia đình.

    Tân về mặt nào cũng trội và ưu thế hơn Vũ. Tân có học, có tiền và lại có địa vị thật xứng cho những cô gái chỉ có một ước mơ. Nhưng với Hiền tất cả không mảy may đáng nhớ. Hiền không cần, ngay cả sự chiều chuộng, săn đón, mà Tân luôn dành cho Hiền, Hiền chỉ một lòng, và Vũ đã như một ngôi sao sáng ngời đã ngự, và rọi sáng trong cùng trái tim Hiền.

    Cả ngày, Hiền phải lo lắng nghe sự xếp đặt và lựa chọn của cha mẹ. Mẹ đã thẳng thắng nói với Hiền, thà Hiền đi khỏi nhà chứ không chấp nhận tình Hiền với Vũ. Mẹ bảo : “ Mày phải xa nó ngay, lính trận sống nay chết mai, đồng tinh không dính túi, hơn nữa học hành không ra đâu, ai bằng thằng Tân có đủ mọi thứ. Xưa tao lấy bố mày có biết yêu, biết đương là cái gì sao vẫn sống tới già, tao nói một là một”. Hiền lặng chịu, phải trả lời sao? Sự cãi vã, luận chứng bây giờ không đúng lúc. Nhưng Hiền cũng tự mình, và không thể để rồi như TTKH dùng thơ than thở:

    Đâu biết lần đi một lỡ làng,

    Dưới trời gian khổ chết yêu đương.

    Người xa xăm quá ! Tôi buồn lắm,

    Trong một ngày vui pháo nhuộm đường.

    Và mãi ân hận, nhớ tới một người thương:

    Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,

    Trời ơi ! Người ấy có buồn không ?

    Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,

    Tựa trái tim phai tựa máu hồng.

    Mãi chiều Hiền mới lên gác, Hiền lấy từng xấp thơ của Vũ để như một khẩn cầu trong thiếu vắng…..

    Và Hiền nhớ lại chuyện xưa......

    ..........................................................................................

    Một tình cờ, ngày ấy Hiền cùng Liên, đón xe lambretta ba bánh lên Thủ Đức thăm Yến, người bạn cùng lớp đau nặng cả tuần không đi học. Chiếc xe đi qua cầu Bình Lợi, trời chuyển mưa, cơn mưa đến vội, gió tạt mạnh, hai tấm bạt ngang hông không đủ cản mưa, Hiền lại ngồi ngoài cùng, Hiền cố gắng dùng vạt áo để che đỡ phần nào, nhưng vô hiệu, Hiền đang bối rối bỗng Vũ từ phía trong bảo Hiền:

    - Cô vào trong ngồi khỏi bị ướt, để tôi đổi chỗ cho cô, áo tôi dầy nên khó ướt hơn.

    Hiền chưng hửng nhìn người lính, nhưng rồi như một tự nhiên, nàng đổi chỗ ngồi cho Vũ ngay với câu nói lí nhí trong miệng:

    - Cám ơn anh.

    Vào ngồi bên trong, Hiền thoải mái và không còn phải lo lắng tránh mưa làm ướt áo Hiền, lúc đó Hiền mới để ý nhìn Vũ.

    Vũ không chống lại với mưa gió, chàng âm thầm lơ đãng như một thách thức. Những cơn gió, những giọt nước tạt mạnh, ngấm dần khiến quần áo Vũ ướt sũng, Hiền hơi hối hận, nên định nói điều gì nhưng lại thôi. Trái lại, Vũ vẫn thản nhiên như không, môi Vũ hơi tái, nhưng điều đó không làm Vũ có một cử chỉ cáu kỉnh hay ca thán. Khoảng mười phút sau chiếc xe đang ngon trớn, bỗng nhao qua, nhao lại khiến mọi người trong xe lo sợ nhìn nhau, người tài xế lẩm bẩm điều gì rồi quay lại bảo mọi người:

    - Xe bị bể bánh, mời cô bác vào trú đỡ trong quán, tôi thay bánh xe, rồi sẽ đi ngay.

    Mọi người xuống xe, Hiền và Liên chạy vội vào trong quán, nhưng không làm sao tránh khỏi những hạt mưa xối xả, nên người ướt sũng. Hiền và Liên đi vào góc quán. Mặt Hiền trông lạnh ngắt. Bờ môi Hiền với mầu son nhạt xoa lên buổi sáng trước khi rời nhà, nhưng vì nước mưa đã làm trôi hết, giờ chỉ còn mầu xám lạnh. Vũ thấy thế, mở balô, lấy hai chiếc áo trận đưa cho Hiền và Liên, bình thản:

    - Hai cô khoác đỡ kẻo bị cảm.

    Sau đó, Vũ lấy chiếc khăn lông mới để Hiền và Liên thấm tóc. Hiền không còn giờ để trả lời. Cơn lạnh đã làm nàng vụng về, và quên hết những điều bóng bảy hằng ngày. Hiền và Liên đỡ áo từ tay vũ và khoác vội lên người. Lúc đó, Hiền nhìn Liên trong chiếc áo trận có tên Vũ mỉm cười bảo Vũ:

    - Cám ơn anh Vũ.

    Vũ hơi ngạc nhiên, nhưng hiểu ngay, Vũ gật đầu đi ra ngoài phụ người tài xế thay bánh xe. Nhưng thật không may vì chiếc bánh mới không đủ hơi. Vũ chạy vào bảo Hiền và Liên :

    - Tôi đón xe khác, hai cô có cùng đi không ? Chiếc bánh thiếu hơi tôi e xe chạy không bao xa rồi lại nằm đường.

    Hiền e dè giới thiệu, giọng nhỏ nhẹ:

    - Tôi là Hiền còn đây là Liên, thật không công bằng nếu chúng tôi biết tên anh, mà anh không biết tên hai đứa tôi.

    Vũ mỉm cười, bình thản:

    - Xin lỗi và hân hạnh biết tên hai cô. Thực ra để hỏi tên thật không khó, nhưng chỉ sợ hai cô hiểu lầm ý tốt của tôi nên tôi không dám đấy thôi.

    Hiền chút ngơ ngác:

    - Ý anh thế nào Hiền không hiểu ?

    Vũ vẫn bình thản:

    - Đôi khi vì thân thiện, hoặc thật lòng chỉ muốn làm quen, nhưng khổ nỗi, nhiều người khi vừa nhìn thấy bộ đồ rằn của những người lính như chúng tôi, đã như bị dị ứng nên coi như một xa lạ, nhiều lúc còn lắc đầu bỉu môi, chính vì thế, chúng tôi phải đành im lặng.

    Rồi Vũ thở dài tiếp:

    - Nhưng có lẽ như vậy tốt hơn, vả lại, còn tránh được sự hiểu lầm, chúng tôi là những người lính trắc nết, đi đâu cũng tán tỉnh lăng nhăng, hai cô nghĩ có đúng không?

    Hiền nhìn Liên mỉm cười vừa bảo Vũ:

    - Anh Vũ kỹ quá Liên hả? Hiền thì lại thấy trái hẳn.

    Liên phụ vào:

    - Anh Vũ, tụi này không có anh hẳn đến đông lạnh, thật uổng cho các cô không biết thật sự lòng hảo tâm và lo cho người của những người lính trận như anh.

    Nhưng Vũ nửa đùa nửa thật:

    - Với quý bà, quý cô, tôi nghĩ người đàn ông nào cũng cư xử như thế, vì trời sinh ra phái nữ là để được bảo bọc, lo lắng và nuông chiều, chẳng thế một nhà văn hào Tây đã nói: “ Không nên đánh người đàn bà, dù với một cành hoa”. Các cô thấy không, huống hồ độ lạnh, và gió thổi còn mạnh và bạo hơn sức của bông hoa rất nhiều, thử hỏi nếu tôi đứng nhìn như vậy có đáng trách không ?

    Hiền lắc đầu duyên dáng:

    - Anh Vũ, Hiền nghĩ anh là một nhà văn đúng hơn là một người cầm súng.

    Liên xen vào:

    - Nhưng Hiền lại luôn tâm sự là thích người nghệ sĩ trong nguy hiểm đấy anh Vũ ạ.

    Hiền đập nhẹ vai Liên. Vũ mỉm cười:

    - Tôi ước gì tôi là người nghệ sĩ đó, nhưng thật khốn, óc tôi lại quá nhỏ. Chắc chỉ là một người lính chuyên nghiệp muôn đời.

    Vừa lúc đó, Vũ nhìn ra ngoài, mưa đã tạm ngưng, Vũ bảo Hiền:

    - Hai cô chờ ở đây, tôi ra đón xe.

    Vũ đi ra, Hiền quay lại bảo Liên:

    - Mày bạo miệng quá sợ anh Vũ hiểu lầm.

    - À há, chưa chi đã cảm rồi sao? Anh Vũ ngọt xớt à.

    - Cảm cái gì, chỉ xã giao thôi, mà tao thấy Vũ có nhiều nét khác với những người lính tao gặp.

    Liên cười khúc khích:

    - Mày có cần tao tiếp tay không? Nhưng phải có điều kiện rõ ràng....

    Nhưng vừa lúc đó Vũ chạy vào, cầm balô khoác lên vai rồi cùng Hiền và Liên ra xe.

    Chiếc xe còn băng ghế sau cùng, chỉ đủ cho ba người, nên Liên nhanh nhẹn vào trước, Hiền theo sau, nên Vũ ngồi cạnh Hiền.

    Ngồi sát với Vũ, Hiền không hiểu vì hơi ấm từ diện tích bé nhỏ của chiếc xe đò đầy người, hay từ hơi của Vũ, Hiền bớt lạnh và xốn xang lạ thường. Vì thế, khoảnh khắc, Hiền tự nhiên đỏ mặt, một tư tưởng chợt đến: “Hơi ấm nào gói trọn trong em”. Hiền mím môi ngồi xích qua phía bên Liên. Rồi Hiền lấy hai chiếc áo trận mà Vũ đã cho Liên và Hiền mượn, trả lại Vũ, vừa lí nhí trong miệng:

    - Hiền cảm ơn anh Vũ nhiều, không biết khi nào có dịp để tụi này đền ơn anh được đây, hai chiếc áo trận của anh cho mượn thật ấm.

    Vũ bông đùa:

    - Cô yên chí, số tôi đòi nợ và cũng nợ dai lắm, vả lại trái đất tròn xoay mà.

    Liên ngoái đầu qua lên tiếng:

    - Cũng hơi méo một chút anh Vũ ạ, theo định lý là thế, nhưng chỗ méo là cái đầu mối, vì nếu không sẽ rất khó đứng để tạo khới điểm.

    Vũ không trả lời Liên, nhưng bất thần hỏi:

    - Cô Liên học ban nào?

    Liên nhanh nhẹn:

    - Liên học Luật anh ạ. Nhưng chắc không phải vì thế đâu.

    - Thế mới nói, có những người ngay khi sinh ra đã được đặt vào khay vàng rồi cô có biết không? Cô khéo nói quá.

    - Liên lớn thế này đâu thể ngồi trong chiếc khay vàng mà anh nói đó, chắc phải để cho Hiền anh Vũ ơi.

    Hiền hích vào hông Liên:

    - Sao có Hiền trong đó.

    Rồi nhìn Vũ:

    - Anh Vũ thấy, Liên đâu có lớn hơn Hiền phải không anh?

    Vũ đưa mắt nhìn hai người con gái mới quen, tự dưng Vũ so sánh, Hiền, nàng không đẹp như chim sa cá lặn, không đài các như những chuyện thần tiên diễn tả, nhưng có một nét mặt thật dịu, thật hiền. Cặp mắt tròn chớp nhẹ, hai gò má ửng hồng càng tạo sự ngây thơ dễ mến. Trái lại, Liên đẹp, cái đẹp sắc sảo song song với lời lẽ và cử chỉ của nàng, Liên vui và hồn nhiên từ cách ăn mặc đến cách nhìn, một trực tính và như không biết sợ ở nàng. Vũ đang phân tích, bỗng Liên hỏi Vũ:

    - Anh Vũ ở binh-chủng nào? Có phải Thủy Quân Lục Chiến không anh?

    Vũ nhìn Liên ngạc nhiên:

    - Sao Liên rành quá vậy?

    Liên do dự rồi trả lời:

    - Thực ra không phải Liên tìm biết mà chỉ tình cờ thôi.

    Rồi liên tiếp:

    - Có một lần Liên đi chơi với cô bạn gái, quen một anh lính trận cũng mặc đồ và gắn con ó như anh Vũ, chỉ khác dấu hiệu ở vai, thay vì hình có chữ “Sói Biển” như anh, Liên thấy anh ấy mang huy hiệu “Hắc Long”. Sao lạ thế anh Vũ?

    Vũ mỉm cười:

    - Dấu hiệu cầu vai chỉ đơn vị, Hắc Long là tiểu đoàn 5 còn Sói Biển là tiểu đoàn 3.

    Chút ngẫm nghĩ, Vũ hỏi Liên:

    - Nhưng anh ấy tên gì ?

    Liên như cố nhớ ra, rồi bảo Vũ:

    - Giao, anh ạ

    Vũ vui mừng:

    - Có phải đại-uý Giao, người Bắc không ?

    - Liên biết anh Giao là người Bắc, còn cấp bậc Liên không biết, các anh đeo cái gì gạch qua, gạch lại Liên đâu để ý được. Liên thấy đeo bông mai dễ nhận hơn.

    - Chúng tôi đeo lon theo binh-chủng Hải Quân. Mà cô Liên như vậy là đã quá tinh rồi, có những thằng bạn của tôi còn

    không biết mình mang dấu hiệu gì.

    Liên tròn xoe đôi mắt ngạc nhiên:

    - Thật hả anh, hay anh cố tình nói Liên tò mò ?

    - Không phải, ý tôi là Liên tỉ mỉ, sau này ai là thân chủ của Liên hẳn là có phúc.

    Hiền họa vào:

    - Chả thế mà Hiền đi đâu với Liên luôn là kẻ thiệt thòi.

    Vũ nhìn Hiền mỉm cười, chàng lắc đầu bảo:

    - Tôi nghĩ mỗi người con gái có một sắc thái riêng, mà sắc thái nào cũng đều khiến các đấng nam nhi phải vỡ nợ.

    - Anh nói vậy là con gái luôn mang cái xui sao?

    Vũ vui miệng:

    - Vỡ nợ ý của tôi muốn nói là về tình cảm cô Hiền ạ.

    Hiền nhìn Vũ, Vũ thật có duyên, chàng thật khéo léo từng câu chuyện, miệng lại luôn mỉm cười như diễn tả sự thành thật từ đáy lòng.

    Khi tới bến xe Thủ Đức, Vũ bảo Hiền và Liên:

    - Con đường Sàigòn-Thủ Đức thật ngắn, tôi ước gì nó mãi dài thêm.

    Liên quay lại bảo Vũ:

    - Liên biết anh ở tiểu-đoàn 3, liệu có ngày anh phải chạy vì sự xuất hiện bất ngờ của hai đứa này.

    Nhưng Vũ thản nhiên:

    - Cô yên chí, tôi chạy là chạy nợ chứ chưa chạy bạn bè. Vả lại cô biết những người cô đơn thường tìm và thích gì không?

    Liên do dự:

    - Ý anh …

    Vũ ngắt lời:

    - Cần có bạn bè để tâm sự và hiểu mình, mà tôi lại là kẻ cô đơn của thế kỷ này.

    Hiền xen vào:

    - Anh Vũ khéo đùa quá.

    Nhưng rồi Hiền thong thả, giọng lịch sự:

    - À mà hy vọng có ngày gặp lại anh. Hôm nay cũng trễ rồi, Hiền xin phép anh đi thăm người bạn, chiều Hiền và Liên còn phải trở về Sàigòn sớm.

    Vũ cúi chào Hiền và Liên. Chàng lững thững về trình diện hậu cứ tiểu-đoàn, và như quên ngay lần vui gặp với hai người con gái, lại cũng chỉ là một sự tình cờ như bao lần tình cờ khác trong đời lính.....................................

    Rời bến xe đò, Hiền và Liên đến giáo xứ Bắc Ninh, khu gần làng đại học Thủ Đức thăm Yến.

    Yến bị cảm cả tuần, đã bớt chút đỉnh, nhưng mặt mày vẫn còn xanh và sút đi nhiều. Thấy Hiền và Liên, Yến như tỉnh hẳn và cảm thấy cả sự sống. Yến buồn, buồn lắm, những ngày không đến trường như một mất mát to lớn, Liên đưa bài vở và những gì cần thiết để Yến chép. Và chuyện của những người con gái bắt đầu không kết thúc. Hai người bạn trai gặp nhau, dù vui mừng nhưng cũng chỉ những bắt tay, những câu nói gọn, hoặc những ngụm rượu nồng rồi trong công việc, nhưng ở phái nữ thì liên tục, chuyện đời ông, đời bà, chuyện mình, chuyện người, ôi thì đủ thứ. Hiền bảo Yến:

    - Xui quá, trên đường lên bồ trời mưa, lại còn bể bánh xe, may có người lính giúp, anh ta đưa áo trận khoác đỡ chứ không đành trở về.

    - Sao có duyên và đúng lúc quá vậy? Yến nói.

    Liên xen vào:

    - Không chỉ thế, coi bộ trời như chiều người, mày biết không có những chuyện tình chỉ bắt đầu bằng tiếng hắt hơi vô duyên không. Liệu mai rày mày sẽ thấy con Hiền lên Thủ Đức hoài, mà không phải lên để thăm mày đâu, đừng có ham nghe cưng.

    Hiền lắc đầu bảo Yến:

    - Tao chưa bao giờ thắng nỗi con Liên, thôi đành ghi sổ sau này trả thù vậy. Miệng nó lúc nào cũng lép bép như bà già nhai trầu vậy đó.

    Yến nhìm Liên và Hiền mỉm cười, định nói điều gì, nhưng bỗng nét mặt Yến tư lự, mãi sau mới hỏi Hiền:

    - Tụi mày đã bao giờ gặp anh tao chưa?

    Rồi Yến lại chậm rãi:

    - Hồi trước anh ấy đi tu ở dòng Salesian Don Bosco cạnh đây, sau đó anh ấy xuất, rồi động viên vào quân-đội. Từ ngày đó có năm chỉ về nhà một lần, mà lần nào cũng thế, may ra dẫn tao đi ciné được một buổi, còn bao nhiêu là bạn bè. Hình như rượu chè tửu quán luôn đi đôi với nghiệp lính. Tao cũng cố mai mối hoài, nhưng ông ấy vẫn tỉnh bơ. Hôm nay được về

    đi học khoá bổ túc, mẹ tao cũng đang trông anh ấy, may có chúng mày lên thăm, hy vọng gặp anh tao.

    Liên nghe Yến nói, mỉm cười bảo Hiền:

    - Ê điệu này coi chừng cơ duyên mình lại là chị con Yến không chừng.

    Yến bảo ngay:

    - Mày thử đi, ở lại chơi với tao tới chiều rồi “try”

    - OK, nhưng mày nhớ phải lễ phép chứ không được mày tao với chị dâu.

    - Tao không biết phải chọn chị nào đây? Hay cả hai đi.

    Cả ba cười khúc khích, bỗng có tiếng gõ cửa, bà Tiên đang dọn cơm nên kêu Yến:

    - Yến con ra mở cửa coi ai đó.

    Yến chạy ra và kêu vội:

    - Mẹ ơi, anh Vũ về.

    Bà Tiên mừng rỡ bỏ vội mâm cơm đang dở, chạy ra phòng khách:

    - Vũ, con vào thay đồ dùng cơm luôn, sao trễ vậy, mẹ tưởng con về hôm qua?

    Vũ mau mắn:

    - Con bị trễ máy bay, hôm nay mới về được. Con cũng vừa ghé hậu cứ trình diện xong rồi về ngay.

    Nhưng khi nhìn nét mặt Yến, Vũ lo lắng:

    - Yến! Sao em xanh vậy?

    Bà Tiên xề xoà:

    - Nó ốm cả tuần, tao lo quá, tính đánh điện cho mày, may lại nghe mày về, nên lại thôi. Mà kỳ này về lâu không? Con xin về Sàigòn làm đi, đi như vậy tao cứ phải đọc kinh ngày đêm.

    Vũ cười vui vẻ:

    - Mẹ cứ thế, con nói Việt-cộng bắn con không trúng đâu, con có bùa của mẹ mà. Vả lại, ai cũng về Sàigòn rồi lấy ai chiến đấu, đời binh nghiệp phải rõ ràng chứ cứ như mẹ, chắc mấy tỉnh ngoài đó để trống cho tụi nó mất.

    Bà Tiên nhẹ giọng, vừa xua tay:

    - Tao nói vậy thôi.

    Rồi bà xề xoà, giọng thương yêu:

    - Tiện có hai cô bạn của con Yến ở Sàigòn cũng đang ngồi ở nhà sau. Thôi vào dùng cơm luôn đi con. Vũ quay qua Yến:

    - Em gầy quá, học liệu thôi, để chiều nay anh dẫn đi ciné, nếu mẹ nói trước, anh đã ghé mua ít táo, hay cam cho em.

    Yến rơm rớm nước mắt:

    - Em cũng đỡ rồi.

    Vũ vẫn thế, Yến thật cảm động vì sự săn sóc và chăm lo của người anh. Từ ngày ba mất Vũ như một bảo bọc cho gia đình, Vũ trông coi Yến như một thay thế của cha, “quyền huynh thế phụ”, chưa một rầy rà hay phiền toái điều gì khiến Yến tủi thân, Vũ rất khéo, và vì thế chàng dồn mọi săn sóc cho cô em gái thiếu tình phụ tử như chàng, Vũ tìm mọi cách để Yến không phải nghỉ học, và phải theo hết những năm còn lại, một sự không dễ, đặc biệt về tài chánh.

    Vũ còn đang suy nghĩ, bà Tiên đã kéo Vũ và Yến vào trong.

    Khi Vũ vừa bước vào, Hiền và Liên nhìn thấy Vũ, cả hai chưng hửng. Yến chút ngạc nhiên trước ánh nhìn của Hiền và Liên khi gặp Vũ, nhưng vẫn giới thiệu với hai người bạn mình:

    - Anh Vũ, anh trai của tao, từ hành quân mới về.

    Rồi bảo Vũ:

    - Hai bạn em, Hiền và Liên, chúng nó vừa từ Sàigòn lên thăm em.

    Nhưng Vũ không trả lời Yến, mỉm cười bảo Liên:

    - Tôi nói rồi, số tôi nợ dai lắm, phải không cô Liên?

    Bây giờ tới Yến ngạc nhiên hỏi Hiền :

    - Ê, bộ bồ quen anh Vũ hồi nào vậy?

    Liên xen vào:

    - Tình cờ, đó mình nói với Yến rồi, nhưng thôi nếu bồ có lễ phép thì lễ phép với Hiền thì đúng hơn. Mình xin chào thua ngay từ hiệp đầu.

    Rồi Liên kể cho Yến nghe về một lần gặp…

    Yến nghe xong cười khúc khích bảo Vũ:

    - Anh thấy không, anh trốn hoài rồi cũng gặp bạn em.

    Vũ mỉm cười vừa nói:

    - Có sao đâu, thì bạn em là bạn anh mà, nhưng mà anh chỉ tiếc có một điều, là nếu anh biết trước, anh đã để mặc cô Hiền ướt chứ không “galant” thế đâu.

    Rồi Vũ làm bộ bình thản:

    - Anh ngây ngô thật, nhưng lỡ rồi chắc bây giờ anh phải đòi công để huề làng.

    Hiền đưa mắt nhìn Vũ, nhưng Vũ lại nói tiếp:

    - Hiền có nói là sẽ đáp ơn tôi khi có dịp phải không?

    Hiền ý tứ trả lời:

    - Anh nhớ dai quá, dạ thưa phải.

    Vũ làm bộ chép miệng, rồi từ từ nói:

    - Thôi được. Như vậy chiều nay ăn xong tôi về hậu cứ lấy chiếc xe của thằng bạn, rồi tất cả mình đi ciné, nhưng mà cô Hiền nhớ là phải trả tiền đấy nhé, cô Hiền có chịu không?

    Yến vừa đập vai vũ nhõng nhẹo, vừa xen vào:

    - Anh tính gọn quá, anh bắt bạn em chi, mới lần đầu anh đã chơi xấu thế này, biểu sao anh chưa có đào là phải. ma mà dám quen anh.

    Nhưng Vũ phân bua:

    - Đây thật là ý của bạn em mà, em cản thế sợ cô Hiền còn giận hờn hơn, vì mất một dịp may hiếm có đúng không cô Hiền?

    Hiền nhìn Vũ chưa kịp nói, nhưng Yến đã lên tiếng:

    - Anh nói dịp may gì?

    Vũ cười nụ, nháy mắt nhìn Hiền:

    - Từ từ cô Hiền sẽ trả lời em.

    Hiền nhỏ nhẹ lên tiếng:

    - Không sao đâu Yến, mình sẵn sàng, dịp trả ơn này quả hiếm, chỉ sợ anh Vũ từ chối thôi.

    Vũ cắt lời Hiền:

    - Tôi chưa bao giờ từ chối, đặc biệt được người đẹp chi tiền.

    Vũ lại bình thản nhìn Hiền với đôi mắt tinh nghịch của người lính trận phong sương:

    - Ngay ngày đầu về Sàigòn tôi đã thấy mình thật là hên rồi, điệu này tôi phải đậu thủ khoa mất.

    Liên nãy giờ ngồi yên, cũng thêm vào:

    - Đáng lý tôi cũng là người thọ ơn, và phải trả ơn anh Vũ mới phải, nhưng tôi không biết tại làm sao mà tôi cảm thấy, hình như lương tâm tôi rất an lành.

    Rồi Liên nhỏ nhẹ như nói với mình, cố ý trêu Hiền:

    - Có lẽ nhờ Hiền.

    Hiền liếc Liên bảo nhỏ:

    - Mày im mồm đi.

    Nhưng Liên như không nghe nói tiếp:

    - Có một điều, tôi không tin anh Vũ chọn khoa học là đúng ý, anh có tài ăn nói, phải chăng anh làm “linh-mục” chắc Liên tình nguyện đi dự thánh lễ nghe anh giảng hàng ngày, nhưng lại rất tiếc.

    Và Liên bỗng duyên dáng:

    - Mà biết đâu chả là điều may đúng không anh, vì anh đã cứu được một linh hồn si tình...

    Vũ xen vào:

    - Chính vì thế tôi mới trốn trước, vả lại số tôi rồi cũng phải cầm súng, nên bởi số, thật khó chạy thoát khỏi số.

    Hiền liếc nhìn Vũ và Liên đối đáp mà lòng xôn xang buồn vui lẫn lộn, một cảm giác lạ lùng từ khi Hiền lớn khôn. Từ ý nghĩ đó, Hiền như vừa thấy ẩn hiện một nhiệm mầu mời gọi... Và Hiền cúi xuống trong thương cảm...

    Bữa cơm không cao lương mỹ vị, nhưng đồ ăn như gói gọn trong những vị giác tuyệt vời làm Yến thật vui. Lần đầu tiên trong sự trầm mặc lo âu của Vũ lại có sự nhí nhảnh vui tươi của thuở ba còn sống. Thật tội nghiệp cho Vũ, chuyện quốc gia, chuyện gia đình luôn dầy đặc, và như khó thoát khỏi ý nghĩ, biết thế nhưng Vũ luôn tạo một niềm tin cho nàng.

    Cơm nước xong, như dự tính, Vũ chở ba người rong chơi trên đường phố Sàigòn. Vũ quên thật và quên những gì của chiến trận để chỉ nhớ, và nhìn sự ngược xuôi của trời Sàigòn, hòn ngọc viễn đông, rộn tiếng cười và mùi vị bình an nơi những người thanh niên, thiếu nữ đang xuân, một nơi hoàn toàn không chiến tranh khói lửa mà Vũ hàng ngày trải qua.

    Và khi từ trong rạp Rex đi ra, Yến ghé sát lại Hiền nói nhỏ:

    - Phim hay quá, Marlon Brando thật một cáo già của điện ảnh.

    Nhưng Hiền vẫn im lặng như có tâm sự không vui. Yến thấy thế gặn hỏi:

    - Bồ mệt?

    Hiền chỉ lắc đầu, Yến hỏi lại:

    - Bồ buồn anhVũ không để bồ trả tiền?

    Hiền chép miệng trả lời:

    - Vũ đã hứa, mình mời, thế sao Vũ lại tranh trả, chắc Vũ coi thường mình.

    Yến cười tươi:

    - Bỏ đi, mình tưởng chuyện gì, anh mình thế đó, vả lại đàn ông đi với con gái lần đầu ai lỡ để bạn gái trả tiền.

    - Nhưng mình không nghĩ thế.

    - Nghĩ cái gì, hay thôi bồ mời anh Vũ đi ăn, lần này mình bắt anh Vũ bao rồi bồ trả tiền nhé, ăn miếng trả miếng có sao đâu.

    Hiền bằng lòng ngay với trò chơi của Yến, họ tiến gần tới Vũ và Liên, cả hai đang tranh luận về một đoạn phim mới xem. Yến kêu Vũ:

    - Anh Vũ, anh vô tình quá, anh dẫn con gái đi chơi mà quên đặc điểm cố hữu nhất của con gái là dễ bị đói và lúc nào cũng “ăn nhép nhép”, em đói quá rồi.

    Vũ khôi hài:

    - Anh tưởng ai đài thọ thì phải đài thọ trót. Thôi vậy kính mời các cô nương.

    Mọi người vui vẻ băng qua đại lộ Lê Lợi đến tiệm Thanh-Bạch, như lời đề nghị của Yến.

    Nhưng Hiền ít nói hẳn, không hiểu vì mệt hay một tác dụng đặc biệt của lần gặp và quen Vũ. Càng đi bên Vũ sự bồn chồn và e lệ trong Hiền càng trở nên khác lạ, một thứ gì như luôn kiềm chế, luôn giữ và bắt nàng trở nên vụng về. Hiền lén nhìn và như muốn biết rõ ràng từ lần đầu về người đàn ông khác với những săn đón hằng ngày Hiền gặp. Nhưng riêng Vũ, Vũ vẫn vui vẻ, từ những câu chuyện chiến trường, những chuyện tiếu lâm, tất cả thật thu hút và như không một mảy may đặc biệt nào dành cho Hiền, hoặc tối thiểu Hiền đang cảm thấy như vậy......

    Khi ly chè của Yến đã hết già nửa, Yến làm bộ kêu và nháy mắt với Hiền:

    - Ê, Hiền, làm bộ đoan trang một chút được không, đứng dậy, đi lấy tăm, rồi đưa hai tay lễ độ mời mọi người coi nào.

    Vũ nhìn Yến:

    - Em muốn dở trò gì đây, sao lại hành tội Hiền thế.

    Nhưng Yến vừa cười vừa nhõng nhẽo:

    - Anh không biết em đang ốm sao?

    Vũ quay qua Hiền:

    - Cô Hiền ngồi đó để tôi lấy cho.

    Nhưng Hiền lẹ làng đứng dậy:

    - Thôi được anh, lệnh Yến giờ còn hơn lệnh bà, anh để Hiền vâng lệnh vậy.

    Vũ không nói thêm, Hiền đến quầy hàng trả tiền, như dự tính đã bàn cùng Yến.

    Thanh toán xong, Hiền lấy vội bốn cây tăm, rồi trở lại bàn đưa hai tay cho Vũ:

    - Hiền xin mời anh, Hiền làm theo lệnh Yến đó.

    Vũ vừa cầm lấy chiếc tăm từ tay Hiền vừa mỉm cười vừa bảo Hiền:

    - Ở nhà chắc cô Hiền hay bị mẹ rầy lắm phải không?

    Hiền không hiểu nên hỏi:

    - Sao anh biết?

    Vũ lại bình thản:

    - Tôi thấy cô chậm quá, lấy tăm mà cũng mất cả giờ.

    Yến không để Vũ nói tiếp:

    - Anh Vũ thật hư quá, sao lại chê con gái nặng lời thế, anh không sợ Hiền giận sao?

    Vũ lặng thinh, liếc mắt nhìn Hiền.

    Không, Hiền chẳng giận, Hiền còn vui như được khen, hai hàng lông mi chớp vội, chiếc má lún đồng tiền còn chứa cả cái bao la của sự đắc thắng nào đó, và Vũ chợt hiểu. Vũ hơi mỉm cười, nụ cười đơn sơ nhưng chứa cả sự thông cảm vô bờ.

    Hiền bỗng nhỏ nhẹ đủ để Yến và Liên nghe:

    - Được người anh như anh Vũ, Yến thật có phúc.

    Liên nhìn Hiền và Vũ, lẹ bảo:

    - Coi bộ hai người hợp ý quá.

    Nhưng Vũ đã không trả lời, chàng lặng đứng dậy như một lẩn tránh và bảo:

    - Tôi phải vào hậu cứ trả xe, để dịp khác, lần sau chắc đến lượt cô Liên.

    Liên tinh nghịch:

    - Liên bằng lòng, nhưng là đãi anh uống nước trà ở nhà Hiền, anh chịu không?

    Vũ mỉm cười nháy mắt nhìn Liên đồng loã:

    - Như thế còn phải tuỳ bà chủ nhà cô Liên ạ.

    Hiền nhìn Vũ e lệ, cặp mắt như nở một niềm vui trìu mến, thương yêu, vì biết Vũ đang cố tình trêu mình. Tuy nhiên, Hiền không trả lời, chỉ hích cùi chỏ vào hông Liên. Liên kêu “ái” mỉm cười nháy mắt toa rập khiến Vũ và Yến cùng cười theo.

    Rồi Vũ lặng đứng dậy, đến quầy hàng, nhưng như chàng đã đoán trước, Hiền đã trả xong.

    Vũ trở lại bàn bình thản bảo Hiền:

    - Tôi đã trách lầm Hiền rồi. Cám ơn Hiền nhé. Tôi hy vọng lần sau Hiền cũng làm như thế, tôi sẽ để dành tiền, khi trở lại vùng hành quân, tôi sẽ mua rượu đế và bao mấy thằng bạn, sau đó, chắc chắn tôi bảo với chúng, là tiền của cô em gái hậu phương gửi tặng các anh lính chiến mồ côi “đào” xa nhà.

    Yến vừa nghe thế, cười to, bảo Vũ:

    - Anh thật không hay chút nào. Sao cứ trêu Hiền thế.

    Nhưng Vũ chỉ khoác tay ra hiệu thân thương, kêu Yến và mọi người cùng rời Thanh-bạch.

    Khi tới trước nhà Hiền, Vũ xuống xe đến gần Hiền nói nhỏ:

    - Cám ơn Hiền nhiều, thật không đành lòng, và hơi khó chịu phải để Hiền trả tiền, nhưng ý Hiền muốn là trời muốn, tôi đâu biết làm sao hơn. Tôi biết Hiền giận tôi ngay ở trong rạp hát, nhưng đừng lo, khi nào tôi “ rách” Hiền sẽ thấy tôi cũng tồi lắm, lúc đó Hiền lại sợ tôi, bỏ của chạy lấy người, Hiền ạ.

    Hiền nhỏ nhẹ:

    - Anh quá lời, Hiền quen anh hôm nay như một xếp đặt, Hiền rất quý, và quý ngay từ cử chỉ đầu.

    Rồi Hiền e dè nhìn Vũ:

    - Anh còn giờ không? Mời anh vào nhà uống nước.

    Nhưng Vũ trả lời ngay:

    - Cám ơn Hiền, tôi phải về, xin để dịp khác Hiền nhé.

    Hiền bỗng hỏi:

    - Bao giờ anh đi?

    Vũ nhanh nhẹn:

    - Năm ngày nữa tôi phải trình diện.

    Hiền chút do dự rồi nói:

    - Em còn ít bài, hồi sáng định mang lên cho Yến, nhưng vì bị mưa, nên ướt hết. Em dự định sẽ chép lại, ngày mai rảnh, em sẽ mang lên cho Yến.

    Hiền như một tự nhiên, từ ý nghĩ, tư tưởng nào, lời nói nào xui và đưa âm thanh “em” ngọt ngào thoát ra, lần đầu tiên Hiền xưng với Vũ. Vũ cảm nhận ngay, nhưng chàng nói:

    - Phiền Hiền quá, hay để mai tôi đến lấy cũng được, có ngại gì không?

    Hiền vui mừng:

    - Không ạ, vâỉy mai em chờ anh.

    Vũ chào Hiền và Liên, chàng lên xe và như quên sự hiện diện của cô em gái bên cạnh, líu lo những bản nhạc tình liên tiếp. Yến nhìn anh như lây với niềm vui đó.

    Từ một hồi hộp khác lạ. Hiền cố dỗ giấc ngủ, nhưng chỉ là chập chờn. Sự trằn trọc mơ hồ đẩy đưa từng giấc mơ đến vội và đứt đoạn, hình ảnh Vũ luôn quyện lẫn một giá ước trong ánh sáng mông lung bên Hiền. Chỉ một lần gặp, cái gì là quyến rũ, mê hoặc, mà Hiền đã nghe, đã đọc, giờ như dậy rõ trong Hiền.

    Sáng hôm sau....Trời còn tờ mờ sáng Hiền đã háo hức, thời gian thật dài. Tới 10 giờ, từ trong cửa sổ trên lầu nhìn ra, Hiền thấy Vũ đi vào. Rồi tiếng gõ cửa nhè nhẹ dưới nhà khiến Hiền khó tránh khỏi sự bồn chồn.

    Hiền vội vàng xuống mở cửa. Rồi một so sánh, Vũ thật gọn và thật nhã nhặn trong bộ đồ dân sự, nhưng tự nhiên Hiền lại thấy ở Vũ như mất đi, hoặc thiếu một sự gì. Phải chăng trong giấc mơ và lần gặp đầu, bộ đồ trận rằn ri trên người Vũ đã ép tận trong đáy lòng Hiền

    Vũ nhìn Hiền tưởng Hiền quên, không nhận ra mình, nên Vũ nói vội:

    - Hiền không nhận ra tôi, hay tại đến sớm quá đã phiền Hiền?

    Hiền vội vã:

    - Không anh, em xin lỗi, em sơ ý, mời anh vô chơi, tự dưng em so sánh giữa hai lần gặp, hôm qua và hôm nay, nên em chút do dự thôi.

    Vũ tần ngần rồi nói:

    - Ý của Hiền là bộ đồ “civil” tôi mặc hôm nay và bộ đồ lính rằn ngày hôm qua?

    Hiền bẽn lẽn:

    - Dạ, nhưng sao anh biết?

    Vũ cười:

    - Thế dáng nào hợp với tôi hơn?

    Hiền mỉm cười, nụ cười thật duyên dáng:

    - Anh muốn Hiền nói thế nào?

    Vũ không do dự:

    - Sự thật đối với tôi lúc nào cũng là điều quý nhất.

    Hiền hơi lưỡng lự, nhưng chưa trả lời vội. Hiền mời Vũ vào trong. Vũ theo Hiền. Và khi Vũ đã ngồi xuống ghế, Hiền mới thong thả trả lời:

    - Bộ đồ trận trên mình anh như một cao ngạo và mạnh dạn, em cứ cảm thấy thế.

    Vũ mỉm cười:

    - Cũng có thể vì Hiền không thấy thường.

    Nhưng rồi Vũ nhìn quanh hỏi Hiền:

    - Hai bác không có nhà?

    - Thưa anh không, ba mẹ em đi ăn giỗ.

    Vũ an tâm hơn:

    - Hiền biết vì sao tôi vận đồ “civil” hôm nay không?

    Hiền chút e dè, khe nói:

    - Em không rõ.

    Vũ thở dài, rồi nói:

    - Các người già thường không ưa lính, nhất là thứ rằn ri khó coi như chúng tôi, vì thế đi gõ cửa nhà con gái mà không biết ý sợ các cụ lấy chổi chà quét ra mất, nên tôi phải làm thế.

    Hiền mỉm cười duyên dáng:

    - Anh giữ ý quá, em chưa bao giờ nghĩ vậy.

    Vũ tỉnh bơ cười nụ:

    - Như vậy tôi yên chí hơn vì hai bác chưa đuổi ai.

    Hiền nhìn Vũ chút bông đùa vừa nheo mắt làm duyên:

    - Cũng có thể rồi mà em không biết.

    Rồi Hiền vào trong bếp lấy nước, còn lại một mình, Vũ đưa mắt nhìn quanh gian phòng. Tất cả bày biện ngăn nắp, nhà Hiền không chỉ đẹp mà còn rất sang. Một dư thừa hay thú vui trong quyền quý. Tự dưng Vũ lưỡng lự. Vũ thấy rõ sự khác biệt giữa hai gia đình. Nhưng khi Hiền ra trên tay bưng lon bia lạnh, Hiền thật ngọt ngào từng cử chỉ, Hiền không khách sáo kiêu kỳ. Rồi từng câu chuyện, Vũ dần vào và còn nhận thấy khởi điểm không chỉ bắt đầu từ Vũ, mà cả Hiền, Vũ quên và quên hết như chỉ còn biết theo một tiền định sẵn đặt, Vũ phải tiến bước.

    Với Hiền, tình yêu Vũ đến không chỉ đơn giản như tiếng “hắt hơi vô duyên” mà Liên nói, nhưng đã chứa đầy duyên phận. Hiền lạc quan ở Vũ từ cử chỉ tới nhân cách, và bên Vũ còn như một đầy đủ lạ lùng. Những ngày hẹn hò, những viên gạch xây và cấu tạo để gắn chặt cuộc tình mới càng thêm khắn khít. Hiền và Vũ bên nhau trong tình nồng, ở Hiền một mới lạ thật sự và như thể không tách rời.

    Nhưng rồi cuộc vui nào cũng phải qua, Vũ trở lại vùng hành quân. Buổi sáng hôm đó, Hiền còn nhớ, trời còn hơi sương. Sàigòn hôm nay, độ lạnh mát rợi, mặt trời vẫn còn ẩn từ một vùng ngoại ô xa xôi nào đó. Hiền và Yến tiễn Vũ ra phi trường. Lần đầu tiên trong đời Hiền đóng vai người tiễn đưa thật, ở đây không có đèn vàng, không có mùa đông tuyết trắng để tạo cảnh chia ly nhớ mãi như ở sân ga Lyons, nhưng đường Sàigòn với Hiền như một xa lạ. Hiền mặc những người, những vật, những xe cộ đua chen lớp lớp và vụt biến. Rồi từ một ý nghĩ, Hiền như bị bỏ quên, Hiền bị tước đoạt, vì Vũ phải xa Hiền.

    Tới phi trường, Vũ thật xa xôi, phải chăng Vũ còn vấn vương tâm sự của tối hôm qua, lúc Vũ rỉ tai nói nhỏ trong tiếng nấc của Hiền ở quán dừa bên xa lộ Biên Hoà: “ Trong đời lính, đây lần đầu tiên anh thèm những ngày ở Sàigòn”. Ngay khi Vũ nói thế, Hiền biết vì Hiền, nhưng lúc này, lúc biệt ly mà Hiền không sao nói được lời gì. Phải chăng, sự nhớ thương đã lăn dài bằng những giọt nước mắt và che kín lời nàng. Vũ cũng không nói, lặng yên, nhưng đôi mắt chàng như chứa chan cả một não nề nhung nhớ. Yến thấy thế, cố gắng phá tan không khí buồn thảm chia ly của Hiền và Vũ, nên mỉm cười bông đùa nói với Vũ:

    - Anh Vũ, em cấm anh đứng ở trường Đồng-Khánh như mọi lần nữa nghe không?

    Vũ nhìn Hiền:

    - Em yên chí, lần này về học khoá bổ túc, anh ngủ mê nên Đức Chúa Trời đã lấy mất mảnh xương sườn của anh để tạo ra Hiền, từ nay nửa thân thể anh ở Sàigòn còn tâm trí đâu mà mơ các nàng ngoài “nớ”.

    Hiền vẫn ngồi yên, Yến thấy thế nói thêm:

    - Hiền đã sinh ra từ 20 năm về trước chứ đâu phải chờ anh tới giờ phải không chị “hai”.

    Hiền nhìn Vũ, rồi xoay qua hỏi Yến:

    - Bồ tính học nghề con Liên chọc mình hả?

    Yến bông đùa duyên dáng:

    - “Dạ” em không dám, thưa chị hai

    Vũ ghé sát lại Hiền, và rất lẹ, để vội nụ hôn mỏng trên suối tóc buông dài của Hiền mặc sự hiện diện của cô em gái

    bên cạnh. Hiền hơi cúi người xuống và khẽ nói với Vũ:

    - Anh đừng uống rượu và hút thuốc lá nhiều, sợ có hại.

    Vũ mỉm cười nói:

    - Anh hứa nhưng chỉ lúc không nhớ em thôi.

    Hiền phụng phịu:

    - Anh!

    Và Vũ nói trong yêu thương:

    - Có nghĩa là anh phải và còn uống và hút nhiều gấp bội vì lúc nào anh cũng nhớ em.

    Hiền đập vai Vũ:

    - Anh ăn gian quá, vậy thôi đừng nhớ em nữa.

    Nhưng Vũ mặn mà trìu mến:

    - Nhưng nếu không nhớ thì sao anh sống? Nhớ em còn cần hơn hơi thở nữa mà.

    Hiền hứ nhẹ, rồi nói với Vũ:

    - Anh chỉ cố ý vì không muốn bỏ rượu và thuốc.

    Nhưng Vũ rất nghiêm trang:

    - Nói thế chứ anh cố để em vui, có người yêu tự mình phải khác em biết không?

    Hiền e lệ, rồi khẽ nói với Vũ, giọng lạc trong yêu đương:

    - Đâu phải chỉ anh, thế anh muốn em làm gì?

    Vũ làm bộ suy nghĩ, rồi nhìn Yến nói lớn:

    - Yến từ nay phải “escorte” “chị” Hiền nghe, nếu anh biết Hiền có ai là anh đánh Yến trước. Còn nữa, cả hai phải cố để chóng làm luật-sư mai mốt cãi cho anh, nếu lỡ anh bắn lầm nghen.

    Yến trả lời Vũ:

    - Em nghĩ cũng lạ, lần trước anh ra phi trường người vẫn còn ngả nghiêng và đầy mùi rượu, mà lần này thì không những sạch mà còn thơm nữa, bảo sao mẹ cứ khen anh hoài.

    Ngay lúc đó, người tài xế ở hậu cứ chạy lại nói với Vũ:

    - Trung-úy, phi cơ sắp cất cánh.

    Vũ quay lại bảo Lộc:

    - Lát nữa nhờ bạn đưa hai cô về hẳn hoi. Nếu hai cô có cần đi đâu thì nhờ bạn đưa dùm. OK.

    Rồi quay sang Hiền:

    - Anh đi, anh sẽ viết thư về em ngay.

    Vũ vỗ nhẹ vai Hiền và đi vội. Chỉ có sự dứt khoát lẹ làng mới giảm được sự xúc động mạnh, dù cảnh biệt ly nào. Hiền chỉ kịp gật đầu. Vũ đã biến vội trong đoàn người.

     

    (Còn tiếp)

    (11/10/2014)
  • TTVDDT 19 - Phần 15
    TTVDDT 19 - Phần 15

     

     

     

    Người Nữ Tu Huyền Chức

     

    Người Nữ Tu Huyền Chức ra đời sau khi J.Ngọc xuất bản trường thiên Cõi Phúc Và Giây Oan toàn bộ và được rất nhiều độc giả thư tín cùng điện thoại, trong đó có cả các vị linh-mục đã góp ý  và thông cảm trong chiều hướng đón nhận thành khẩn với J.Ngọc khiến J.Ngọc cảm hứng đã tiếp tục viết... và Người Nữ Tu Huyền Chức ra đời.

     

    Thực ra, với J.Ngọc, Người Nữ Tu Huyền Chức còn là một ấp ủ từ lâu, nhất là với J.Ngọc, các nữ-tu luôn sẵn sàng hy sinh để hiến mình cho Chúa và phục vụ tha nhân thật sự rất đáng được tôn kính. J.Ngọc muốn dùng ngòi bút để phần nào nói lên những hy sinh và trăn trở của một người phụ nữ đã tự nguyện hy sinh tất cả đời mình, nhất là trước những âm thầm, những chịu đựng và biết bao nhiêu sa ngã lúc nào cũng rình rập như những con sâu trong huyết quản.. Nhưng những người Nữ-tu đã làm gì để có thể tránh được những cạm bẫy ung nhọt bất trị của thế gian...

     

    Xin qúy độc giả đón đọc Người Nữ Tu Huyền Chức để phần nào thông cảm chức năng của một nữ-tu trước và sau.. huyền chức....

     

    Lời Tâm Lộ Của Tác Giả trong Người Nữ Tu Huyền Chức

     

    J. Ngọc, với tâm ý luôn muốn cùng độc giả chia sẻ những cảm súc từ những chất chứa buồn vui lẫn lộn của cuộc sống, mà ở đó, sự định giá tùy theo nhân sinh quan của từng độc giả.

     

    Trong ý nghĩ đó, tác phẩm Người Nữ Tu Huyền Chức, chỉ là một cuốn tiểu thuyết đúng nghĩa, J. Ngọc đã dùng tâm huyết trang trải theo thiển ý riêng mình, trong hồi sinh quá khứ, một quá khứ với nhiều chất lũy đau thương của những mảnh đời trôi dạt, truân chuyên, gò bó, trong từng tấc luân lý cổ truyền, đôi khi áp đặt, nhưng phải cam chịu, của một đời người chỉ biết sống tùng phục nơi xóm làng, qua từng thời, từng đời, diễn tiến.

     

    J. Ngọc nhớ một lần trong chuyến công tác Singapore, trên cùng chuyến bay, một người bạn Mỹ, vì thấy J. Ngọc liên tục viết bài, đã hỏi J. Ngọc, lý do gì tác động khiến J. Ngọc viết văn. J. Ngọc đã thành thật trả lời: “Có lẽ vì J. Ngọc muốn được chia xẻ cùng độc giả những thầm nghĩ riêng mình, để tìm cho đời sống một nhân hậu đứng đắn.”

     

    Quả thật, đời sống con người quá nhiều khúc mắc, nhất là cuộc hành trình khó khăn mà những người chúng ta đang cùng cam cảnh. Vật chất đã hiên ngang lũng đoạn, để rồi đời sống tinh thần như dần bị quên lãng. Do đó, những người vì tha nhân, hy sinh, lăn xả cho xã hội trong tinh thần thiện nguyện đích thật, dễ bị bôi bác và mất đi sự mầu nhiệm và giá trị cao qúy, để vô tình bù vào bằng những trắc trở vô tâm, của chính những người cùng giống. 

     

    J. Ngọc xin đa tạ sự thông cảm, và cám ơn quý độc giả trong lời qúy mến và thân thương, đã chia xẻ hầu J. Ngọc có cơ hội trải lòng mình trong những tác phẩm đã qua, cùng một tâm ý nhớ về dĩ vãng thân thương, nhưng mãi còn trong từng người, từng nơi và từng thời gian, để từ đó rút ra những kinh nghiệm cần thiết, cho cuộc sống đang cần hồi sinh lòng thiện, không chỉ bây giờ mà mãi mãi

     

    J. Ngọc  01/2000

     

     

     

    TRUYỆN DÀI :

     

    Người Nữ Tu Huyền Chức

     

    (Tiếp theo)

     

     

                                 Chương  5

     

    Cuộc đời con người là những trôi nổi không ngừng. Vì thế, sự lệ thuộc vào đời sống hẳn nhiên như một giao ước không thể chối bỏ. Có những chuyện tầm thường trở nên khác thường, và ngược lại có những chuyện tưởng như không thể bao giờ có cơ hội thì lại hiện hữu rõ ràng.

    Cách đây vài tháng, cũng trong bữa cơm chiều gia đình, Thanh đã tưởng sẽ chẳng có bao giờ Thanh có cơ hội được rời khỏi nhà để theo con đường mà Thanh mong ước. Ngoài ra Thanh còn từng bị ông Tam hành hạ, chửi mắng và dùng những lời đanh thép cấm đoa1n. Ngờ đâu hôm nay, cũng bữa cơm chiều, cũng trong không gian ấy, ông Tam lại gắp cho Thanh từng miếng thịt như một bày tỏ tình phụ tử ân cần và thương yêu nhất.

    Ông Tam trông trầm tư và lặng lẽ khác thường, thỉnh thoảng còn đưa mắt nhìn Thanh ân cần gắp thịt bỏ vào đĩa cho Thanh bằng những yêu thương trìu mến. Rồi trong cử chỉ thân thương đó, ông Tam bưng ly rượu hớp từng ngụm nhỏ như thưởng thức sự nồng nàn êm ái của gia đình. Ông Tam gần đây đã không còn say sưa. Ông Tam biến đổi như một không ngờ. Ông uống rượu với một mức độ mẫu mực ấn định. Bà Tam tưởng vì ông ra làm việc giáo-xứ, nên tự ông phải biết sửa đổi. Nhưng không, không ai có thể hiểu được sự thay đổi của ông từ đâu, chỉ riêng mình ông Tam, ông Tam đã được đánh động từ cử chỉ nhu mì, hiền thục của sơ Cecilia hay vì sơ Cecilia là Nụ, người con gái đã làm ông hồi sinh tuổi thơ? Ông không cần phân tích, và sự phân tích quả không cần thiết, vì ông chỉ biết rằng, Cecilia đã cho ông nguồn sống mới, mà tối thiểu là ông đã biết phân định phải trái và chiều theo ý bà Tam cũng như Thanh. Từ đó, ông không còn điều to tiếng nhỏ. Ông cũng qúy mến tất cả các bậc tu trì, dù là các sơ, nên sự nhận định đối với những nữ-tu không còn mặc cảm trong ông.

    Bà Tam không dám nhìn Thanh, thỉnh thoảng Thanh nghe thấy bà Thanh cố nín tiếng thở dài, như cố dấu một đau buồn đang dồn ép. Thanh nuốt những miếng cơm, nhưng chính Thanh cũng bị hành hạ của cảnh chia ly, vì ngày mai Thanh đã thực thụ xa bố mẹ. Nghĩ tới đó, lòng Thanh chùng xuống, mắt Thanh cay cay. Thanh cố kềm giữ, gắp miếng thịt bố vừa cho qua bát của em út, miệng trầm buồn:

    - Ăn đi em.

    Thanh cũng chỉ nói được mấy tiếng nhưng tưởng như đã tiêu hao bao sinh lực. Bà Tam không còn cầm nổi nước mắt nên mếu máo:

    - Con ăn đi, nó ở nhà lúc nào ăn chẳng được.

    Rồi bà thở dài thành tiếng:

    - Lên nhà dòng, con phải cố gắng ăn uống nhé con.

    Thanh cúi mặt. Vì Thanh vừa cảm thấy hai giòng lệ đang chảy dần trên khoé mắt. Ông Tam nhìn Thanh:

    - Con còn buồn bố không?

    Thanh nhanh nhẹn:

    - Thưa bố, chưa bao giờ con dám buồn bố mẹ.

    Ông Tam nghe Thanh, miệng lẩm bẩm:

    - Nhiều lúc bố thấy bố ích kỷ qúa. Nhưng bố hứa bố sẽ không để mẹ và em con phải khổ. Con yên tâm sống đời sống tu hành thực sự như sơ Cecilia.

    Thanh dạ nhỏ. Bà Tam nhìn chồng, rồi lại nhìn Thanh, một lúc bà lên tiếng:

    - Không phải ai đi tu cũng đều được. Vì Chúa gọi nhiều, nhưng chọn thì ít, mẹ chỉ mong con, nếu tu không được thì đừng

     

    cố ở, mai mốt con sẽ mang tội ăn vụng cơm nhà Chúa con nhé.

    Thanh gật đầu, đưa mắt nhìn bà Tam. Bà Tam nhìn Thanh, tự nhiên bà đứng dậy đi vào nhà trong.

    Thanh nhìn theo dáng bà Tam, thấy dáng mẹ gầy và già hẳn ra. Một ý nghĩ trong đầu, nếu quả đi tu là từ bỏ gia đình thì Thanh chẳng hóa ra là kẻ bất hiếu sao? Vì Thanh đã trốn chạy để không phải nuôi dưỡng bố mẹ trong tuổi già. Nhưng Thanh nào ngờ, sự hiếu thảo của con cái chưa hẳn đã là sự nuôi dưỡng, vì thường không bố mẹ nào nuôi con để mong con trả ơn bằng cách nuôi lại, mà chỉ mong sao con sống hạnh phúc. Vì không có sự báo hiếu nào đẹp bằng niềm vui của con cái.

    Tuy nhiên, nói tới chia ly, là nói tới nước mắt. Vì nước mắt đã là sự mầu nhiệm đặc biệt của chia ly ngay từ nguyên thủy. Cũng như sự mâu thuẫn của con người, dù biết Thanh đi vì lý tưởng, nhưng sự đau lòng từ nhớ thương vẫn không thể chối bỏ.

    Thanh cố và miếng cơm cuối cùng trong chén. Mời bố, đứng dậy vào trong với bà Tam. Bà Tam thấy Thanh vào, vội chùi nước mắt. Thanh mếu máo:

    - Mẹ ra dùng cơm. Nếu mẹ không muốn con đi, con vẫn có thể ở nhà được mà.

    Nhưng bà Tam mắng yêu Thanh:

    - Con chỉ nói bậy. Mẹ nào không muốn cho con đi.

    Rồi như sợ Thanh buồn, bà Tam dắt Thanh ra ngồi lại vào bàn ăn.

    Vừa lúc đó, có tiếng gõ cửa. Thanh nhanh nhẹn đứng dậy ra mở cửa. Một người khách nói nhanh:

    - Cô bán cho tôi liều thuốc đau bụng. Thằng bé tôi nó đi cầu hoài. Tôi biết đã đóng cửa, nhưng xin cô thông cảm.

    Thanh ngọt nào:

    - Thưa bà không có chi đâu.

    Rồi Thanh không chần chờ, lấy hộp thuốc trao cho khách, còn dặn đi, dặn lại cách dùng. Nhưng khi Thanh đóng cửa, vô tình nhìn ra ngoài, chợt thấy Huy đang đứng dựa dưới cây me đầu hẻm. Một phản ứng tự nhiên, Thanh đưa mắt nhìn quanh lòng phập phồng lo sợ. Nhưng chung quanh may mắn không bóng người, lòng Thanh Thấy yên tâm, nhưng sự yên tâm bị tắc nghẽn ngay khi nhớ tới bố mẹ đang còn ngồi bên trong. Thanh vội vã định kéo cửa. Nhưng Huy như đoán biết. Thật nhanh. Huy tiến tới đầu hồi nhà Thanh, không nói một lời, Huy để môt hộp giấy thật nhỏ trên bậc thềm, rồi quay đi vội vàng. Thanh chưng hửng, nhưng vì lòng quá hồi hộp, Thanh chỉ còn như một cái máy, tiến lẹ ra và cầm chiếc hộp bỏ vào túi áo cánh đang mặc. Động tác của Thanh và Huy giống như hai người thám tử rành nghề, mà chính Thanh, khi đóng cửa trở vào trong nhà, Thanh vẫn không còn nhớ diễn biến vừa xảy ra thế nào.

    Từ đó, Thanh mất thăng bằng. Lòng Thanh xao xuyến cùng cực. Những câu hỏi dồn dập luân phiên, nhưng không hề có một câu trả lời khả dĩ. Nhưng vì còn quá nhiều việc phải làm, từ những sách vở, quần áo và những đồ lặt vặt cần mang. Bà Tam cả đêm quanh quẩn bên Thanh như sợ mai con đi rồi sẽ không còn cơ hội gặp lại.

    Thực ra bà Tam cũng không phải là quá đáng, vì khi có con đi tu, là tự đã bằng lòng hoàn toàn tâm niệm, người con đó từ nay sẽ không còn là con của mình, mà là con chung, con của mọi người. Bà Tam không cần được hướng dẫn, nhưng lại rất rõ ràng, vì bà Tam là người chất phát nhưng lại am tường lẽ đời, điều mà bà may mắn được huấn dậy qua phúc-âm từ tấm bé tới nay với sự am tường thông hiểu cuả linh-mục Lam, một người linh-mục biết lấy sự thánh thiện để huấn dậy giáo dân theo đường lối nhẫn nhục và khiêm nhường của Chúa. Chính vì thế, bà Tam chưa bao giờ so sánh giữa các đời sống tu trì. Vì ở bất kỳ một ranh giới nào, người đi tu cũng đã có một tấm lòng thiết tha với đời sống mình chọn, thì công việc gì được giao phó cũng là công việc làm xứng đáng. Thiên chức của kẻ tu hành chỉ được đánh giá trước mặt Thiên Chúa khi chức năng đó được thi hành trong ơn Chúa, mà đã trong ơn Chúa, thì không có việc làm nào gía trị hơn việc làm nào. Từ các sơ, những người cả đời chỉ biết chùi cầu tiêu hay băng bó cho các người cùi lở ở những nơi bẩn thỉu, hôi hám, đến các giám-mục, linh-mục với áo quần nề nếp sống như những người trưởng giả trần thế, thì trước mặt Thiên Chúa nào khác chi. Do đó, với bà Tam, bà luôn có sự kính nể đặc biệt những người dâng mình cho chúa qua ơn gọi đi tu, dù ở đâu.

    Bà Tam không hề có bất kỳ khái niệm nào bất tuân phục hội-thánh, nhưng bà chỉ dám suy luận theo sự hiểu biết thiển cận của mình cũng như linh-mục Lam có lời bình phẩm với ông Tam. Tại sao, các nữ-tu, những người cũng bỏ cuộc đời để dâng mình cho Chúa, còn hơn cả các thầy-sáu vĩnh viễn, lại không có thể thay các linh-mục để dẫn giải phúc-âm trong các thánh-lễ Misa. Nhất là rất nhiều nữ-tu rất giỏi và không kém năng khiếu so với các linh-mục. Còn nói về tâm lý, đôi khi đàn bà có nhiều tình cảm thu phục hơn đàn ông. Hay chẳng lẽ giáo-hội muốn cho các nữ-tu trở nên dụng cụ đặc biệt của Thiên Chúa hoàn toàn qua đường lối khác, bằng những công việc bé mọn nhưng thiết thực và cần thiết hơn. Chính vì thế, có nhiều người trong mọi giới, dù có khó khăn và cứng đầu tới đâu, nhưng khi đứng trước sự thánh thiện và nhân đức cũng trở nên hiền lành và dễ dàng. Do đó, bà Tam lại nghĩ lại, phải chăng đây mới là sự huyền diệu của Thiên Chúa, lấy tình yêu của người tôi tớ hèn mọn mà cai trị tội ác thế gian.

    Nhưng dù cách nào, và hình thức nào bà Tam cũng không thể không thương nhớ người con gái duy nhất của mình. Và vì thế, bà Tam đã thức cả đêm với Thanh.

    Riêng ông Tam, ông vào giừơng nhưng Thanh biết ông Tam cũng không hề nhắm mắt. Tình phụ tử bao giờ cũng có lý lẽ riêng, trầm và rất kiên cường.

    Càng về sáng, lòng Thanh càng thấy sự xa cách gần kề. Đây là lần đầu tiên trong đời Thanh xa bố mẹ, Thanh nào có kinh nghiệm của xa cách. Thanh chỉ biết rằng, dù Thanh rất vui mừng được theo con đường Thanh hằng ao ước, nhưng nước mắt Thanh vẫn đầy ắp nỗi buồn.

    Chuông nhà thờ đổ lần thứ nhất, Thanh thay áo đi lễ, rờ túi áo, Thanh mới nhớ tới hộp của Huy. Thanh tò mò định mở, nhưng bà Tam vẫn ngồi bên dặn dò đủ điều. Tới lúc chuông nhà thờ lần thứ hai, bà Tam mới đứng dậy, mặc vội chiếc áo dài hàng ngày đi lễ.

    Lòng Thanh hồi hộp mân mê chiếc hộp, nhưng vì sợ mẹ trông thấy, Thanh đành bỏ vào bọc quần áo định lên xe rồi sẽ mở ra. Nhưng từ lúc đó, hình ảnh và khuôn mặt của Huy luôn quay cuồng trong Thanh. Thanh thấy lạ lùng, thật ra, Thanh cũng không thể phân định rõ tình cảm của Thanh đối với Huy thế nào. Nhưng có một điều Thanh biết là chắc chắn không bằng chí hướng cương quyết đi tu. Chính vì thế, những sôi sục trong lòng mới chợt đến rồi đi dễ dàng. Nhưng Thanh không thể dối lòng, cũng có lúc lòng Thanh đầy rạo rực khi nghĩ tới Huy, nhất là ánh mắt Huy trong những buổi tập hát chung. Huy vừa hát, vừa mỉm cười tế nhị, mà Thanh nghĩ, chỉ có Thanh mới đoán hiểu. Nhiều lúc Thanh phải lãng quên và tự tạo cho mình bình thường hóa sự việc, để Thanh coi nhẹ tình cảm cá nhân hiện hữu mà tiến theo con đường mới. Nhưng thật không dễ. Đời sống là phiền toái và mông lung. Thanh phải cố nhớ để đẩy đưa Thanh khỏi sự sa ngã.

    Và rồi giờ chia ly cũng đến, Bà Tam đứng dưới cửa kính xe đò nhìn Thanh. Thanh ngồi bên Mỹ-Hằng với hai hàng lệ hoen đổ. Thanh cảm thấy vị mặn chảy xuống bờ môi. Thanh cố giữ khỏi bật khóc thành tiếng, nhưng rồi tiếng nấc cũng tuôn trào. Mỹ-Hằng thấy thế bảo Thanh:

    - Chắc Thanh mà nhớ nhà thế này, không đi tu được đâu.

    Thanh nghe thế, thấy xấu hổ, nên cố nói với bà Tam trong nghẹn ngào:

    - Thưa mẹ, mẹ về đi, con hứa sẽ nghe lời mẹ dặn.

    Bà Tam vì ngại với Mỹ-Hằng, nên cầm tay Thanh nói nhanh:

    - Xin sơ giúp đỡ em nó. Nó còn dại lắm.

    Rồi bà không đợi Mỹ-Hằng trả lời, bà lẩn vào phía sau trong dòng nước mắt.

    Thanh nhìn theo mẹ cho tới khi bà Tam khuất bóng mới chùi nước mắt quay qua Mỹ-Hằng nói nhỏ:

    - Ai đánh đập em, em có thể chịu được, nhưng nhìn thấy mẹ em khóc, là dù đang vui mừng, em cũng phải khóc theo. Em hư quá phải không sơ?

    Nhưng Mỹ-Hằng vui vẻ chấn an:

    - Chị cũng đâu khác em. Đó mới thật là tình máu mủ ruột thịt em ạ.

    Vừa lúc, chiếc xe đò chuyển bánh. Mỹ-Hằng cùng Thanh đọc kinh dâng mình cho Chúa xong. Mỹ-Hằng mới ghé tai Thanh nói vừa đủ Thanh nghe:

    - Hôm qua em có vào gặp cha xứ không.

    Thanh ân cần:

    - Dạ thưa sơ có. Cha có cho em cỗ tràng-hạt cha mua từ Roma.

    Mỹ-Hằng nhìn Thanh:

    - Em được cha qúy mến như vậy là em có phước lắm. Nhưng đây cũng là sự ràng buộc để em luôn nhớ, lúc nào cũng phải cố gắng để khỏi phụ lòng những người qúy mến em.

    Thanh dạ nhỏ. Mỹ-Hằng tiếp:

    - Cha có nói, lệ phí học vấn của em cho tới khi vào nhà-tập đã được sơ Cecilia tìm người bảo trợ không?

    Thanh quay qua Mỹ-Hằng thưa:

    - Thưa sơ, cha có nói với em, và cũng bảo em xin sơ chuyển lời cám ơn của cha đến sơ Cecilia.

    Mỹ-Hằng gật đầu quay ra ngoài tư lự. Tự nhiên Mỹ-Hằng nhớ lại ngày xin gia nhập dòng, thật đầy gian truân. Nhưng quả thật, Chúa gọi mỗi người một cách. Mỹ-Hằng bỗng mỉm cười bằng tất cả chấp nhận trước sự đặt để của Thiên Chúa cho đời mình.

    Thanh cũng nhìn ra ngoài, nhưng lòng Thanh vẫn còn xáo trộn đầy những nhớ nhung. Khi món đồ trong tay vuột mất, thật sự ta mới thấy tiếc nuối. Thanh cũng vậy, giờ đây bao êm ấm gia đình, từ những vui buồn như dòng suối mát dần dần thấm nhập hồn Thanh. Thanh nhắm mắt trải qua từng tuổi thời gian, lúc còn tấm bé. Ông bà nội Thanh là người khá giả trong làng, nhưng rất hiền lành và ngoan đạo. Ông đã nuôi rất nhiều người thời tháng ba đói năm 1945, lúc mà quân Nhật sang tàn phá nước ta, đã đổ biết bao nhiêu lúa gạo xuống sông, lại còn phá đê làm ngập bao nhiêu ruộng lúa, mục đích tiêu diệt dân Việt.

    Thanh vì còn quá bé, nên cũng chỉ nghe mẹ kể lại. Nhưng ông bà nội Thanh đã không may mắn, năm 1954 chính những người ông bà nội Thanh giúp đỡ lại nghe theo Việt-minh đấu tố ông bà nội của Thanh, họ tạo ơn thành oán, bắt tội ông bà nội Thanh đủ điều. Cuối cùng chúng ức hiếp ông bà nội Thanh tới chết. Cũng may bố mẹ Thanh lúc bấy giờ đã rời làng. Nếu không, chắc chắn bố mẹ Thanh không còn tới ngày nay.

    Và rồi, những ngày lớn khôn, những khó khăn tìm sống của gia đình từ ngày về đây. Càng nghĩ, Thanh càng thương bố mẹ. Lòng Thanh càng quặn đau vì giữa lúc bố mẹ tới tuổi già Thanh lại bỏ đi xa.

    Rồi từng tư tưởng và ý nghĩ khuấy động. Thanh bỗng nhớ về Huy. Tự dưng Thanh nhìn Mỹ-Hằng như sợ tư tưởng mình vừa bị lộ. Nhưng Mỹ-Hằng đang nhắm mắt, miệng lâm râm đọc kinh. Thanh yên tâm, nhưng sự tò mò lại trói buộc. Thanh cúi xuống mở gói nhỏ đựng ít đồ cá nhân. Nhưng Thanh vừa định mở, một tư tưởng tội lỗi làm Thanh khựng lại. Thanh tự nói với mình: “Hay nhờ sơ Mỹ-Hằng coi, nếu Sơ nghĩ nên coi, thì hãy coi”. Nhưng Thanh lại phản đối ngay, vì làm như thế là mất tự trọng với Huy.

    Vì thế, trong Thanh mãi dằng co. Cuối cùng, Thanh quyết định mở ra, trong hộp là một hình Đức Mẹ thật đẹp với sợi dây chuyền vàng, đặt trên một tờ giấy mỏng mầu hồng với những dòng chữ nhỏ chằng chịt. Thanh thờ thẫn, một cảm giác lạ lùng bao phủ, cảm giác vừa sung sướng vừa ăn năn. Thanh không mở mảnh giấy mà Thanh biết là lá thơ đầu tiên Huy gửi cho Thanh. Thanh ngẫm nghĩ hoang mang trong lòng. Tại sao cuộc đời luôn tạo những khó khăn khiến lòng mình lúc nào cũng mất đi sự an bình. Nghĩ tới Huy, người con trai tác phong và độ lượng, nhưng gía Huy đừng gửi thư, có lẽ đỡ làm Thanh phải cực hình trong chống trả bồi hồi. Thanh thở dài, Thanh không trách móc Huy, mà chỉ lo cho sự chống trả trong lòng không trọn vẹn. Bất giác Thanh quay qua Mỹ-Hằng, nhưng Mỹ-Hằng vẫn còn đang nhắm mắt cầu nguyện. Thanh chần chờ, cuối cùng, quyết định Thanh sẽ chờ để hỏi ý kiến Mỹ Hằng. Nhưng rồi không biết nghĩ sao, Thanh lấy sợi dây chuyền và bức ảnh đeo vào cổ, mở lá thư của Huy ra đọc trong im lặng:

     

    Thanh!

    Lẽ ra Huy đã không viết lá thư này cho Thanh, nhưng càng cố gắng, Huy càng thấy phải viết để chúc mừng Thanh, cũng như gửi Thanh chút qùa kỷ niệm, đánh dấu ngày Thanh thật sự trở thành một đệ-tử dòng tu. Hơn nữa, Huy vẫn hay ngớ ngẩn, luôn coi mình như kẻ tuyệt vọng. Nhưng quả thật, khi Chúa đặt ra tình yêu nam nữ, hẳn Ngài đã cho chúng ta cơ hội để thân gặp, để rồi Huy yêu Thanh trong hoàn cảnh khác thường. Huy nói thế vì Huy hiểu Thanh đã thực sự muốn được hiến dâng ngay từ tấm bé. Khổ nỗi, Huy là con người yếu đuối, yếu đuối đúng nghĩa, nên dù biết con đường yêu đương của mình đơn độc, Huy vẫn tự mình tình nguyện dấn bước. Nhiều lúc, Huy đã cố gắng coi Thanh như một người bạn thân, nhưng qủa thật khó, vì Huy không thể dối lòng mình. Vì thế, Huy thường bị cắn rứt vô tận hàng đêm.

    Con người đôi khi cũng lạ, khi có cơ hội thì không chịu làm, lúc đường cùng mới co chân nước rút, cũng như Huy, tại sao Huy lại chờ tới lúc Thanh đi mới viết thơ cho Thanh. Nhưng Huy có lý của Huy. Huy không muốn cản trở con đường Thanh đi. Hơn nữa, nếu thực sự Huy nghĩ tới Thanh thì mọi quyết định của Thanh, tự đã là niềm vui của Huy rồi. Nên đôi khi, niềm vui cuả con người lại từ những đau khổ mà mình không hay.

    Thanh còn nhớ truyện nữ-hoàng Saba không. Khi còn là công-chúa, cô có một sắc đẹp tuyệt trần. Khốn thay, cô lại là người con duy nhất của hoàng-đế, nên khi đoàng-đế băng hà, dĩ nhiên cô phải là người lên kế vị. nhưng vì luật của triều-đình, nếu công-chúa muốn kế vị thì phải có lời thề độc thân, suốt đời không yêu ai. Khốn thay, ngày đăng quang của công-chúa lại chính là ngày công-chúa bị tiếng sét ái tình, khi tình cờ bắt gặp cặp mắt say đắm của hoàng-tử xứ Ba-tư. Công-chúa đã phải tìm đủ cách gặp gỡ cho thoả lòng, nhưng cuối cùng cũng không thể che được mắt các quan trong triều, nên công-chúa đành phải xa người yêu. Nhưng bù vào đó, công-chúa đã tìm quên trong chiến trận, để rồi nhờ vào cuộc tình đau khổ đó, công-chúa đánh đâu thắng đó và đã trở nên là người đầu tiên sáng lập ra những tầu chiến tại trung-đông.

    Huy kể lại chuyện này, và không viết tới phần sau, khi nữ-hoàng Saba lấy vua Salomon,. Không phải Huy ví mình như nữ-hoàng Saba, nhưng chỉ dám bày tỏ quyết định của Huy cũng muốn dùng chiến trận để mãi ghi nhớ những gì lòng Huy đã giao ước, là mãi yêu Thanh, nhưng yêu trong tình yêu thiết thực qua đời sống Kitô, vì chắc chắn, tình yêu tự nó không bao giờ có tội, mà chỉ trở thành tội khi chúng ta lợi dụng trái với đường lối của Thiên Chúa mà thôi. Huy cũng báo tin cho Thanh, Huy đã được nhận vào trường võ-bị quốc gia Đà Lạt. Như vậy là từ nay quả thật chúng ta sẽ khó có cơ hội gặp nhau. Thôi thì hãy gặp trong mầu nhiệm cứu chuộc phải không Thanh. Viết tới đây, Huy tự thấy mình mâu thuẫn. Huy không biết có nên gửi lá thư này cho Thanh không. Cuối cùng, Huy quyết định, sau khi dán lá thơ, Huy đành thử thời vận bằng cách cầu may, nếu Huy thảy đồng xu lên, mặt phải, Huy gửi lá thơ này, và ngược lại, Huy sẽ giữ mãi lá thơ này bên mình. Nếu Thanh đang đọc thơ Huy, là Huy đã làm đúng theo giao ước. Như vậy có phải là sự xếp đặt không Thanh.

    Càng viết Huy càng bấn loạn, Huy muốn viết liên tục, và viết mãi mãi vì Huy biết, Huy ngừng viết là sẽ không còn cơ hội viết cho Thanh.. Nhưng nếu trên thế gian này, có thể làm được tất cả những gì mình muốn, thì hẳn nó sẽ trở nên buồn chán và vô vị lắm phải không Thanh? Thôi thì đành theo định luật bất di bất dịch của Thượng-đế, có “có” thì phải có “không”, có khởi sự thì phải có kết thúc. Huy đành ngừng bút, và xin gửi đến Thanh tất cả sự may mắn. Thanh cũng luôn nhớ cầu nguyện cho Huy.

    Huy.

     

    Đọc xong lá thơ, Thanh vẫn ngồi bất động. Giữa mặt hồ yên tĩnh của lòng Thanh, Thanh thấy một cơn sóng ngầm thành hình và đang dấy động. Thanh thấy một sự rạo rực của con tim như bừng cháy. Không phải lần đầu tiên Thanh nhận được thư tỏ tình từ những người theo đuổi Thanh. An đã gửi bao lá thư cho Thanh, rồi Khang, rồi Phúc... Nhưng đây là lần đầu tiên Thanh đọc. Có phải là vì của Huy hay vì Thanh không còn e dè, sợ sệt như trước kia? Bao nhiêu câu hỏi, nhưng Thanh không thể tìm được câu trả lời nào khả dĩ. Hay vì Thanh cố tình không muốn đào sâu tâm ý mình.

    Bỗng từ tận sâu, một hồi chuông đổ dồn đã làm Thanh chấn động. Thanh cố gắng bịt tai che mắt, nhưng tiếng chuông càng lớn như xoáy vào cùng sâu và lưu hành trong từng tế bào, để di chuyển trong trái tim nồng cháy của tình yêu tuổi dậy thì. Thanh bào chữa, Thanh xua tay.. nhưng tiếng nói từ đâu vọng lại mồn một: “Vì tình yêu”. Thanh hoảng hốt, một tiếng nói bật khóc: “Không, không”

    Mỹ-Hằng quay lại, thấy Thanh hai hàng lệ đang nhỏ trên đôi gò má, mặt Thanh biến sắc, dáng ngồi bất động, trên tay cầm chắc chiếc hộp và lá thư, mặc chiếc xe đò đang xô đẩy. Mỹ-Hằng tư lự rồi gọi Thanh. Thanh bừng tỉnh như vừa trải qua một giấc mơ. Thanh nhìn Mỹ-Hằng miệng lẩm bẩm, giọng ăn năn:

    - Em xin lỗi Sơ.

    Nhưng sơ Mỹ-Hằng điềm tĩnh cầm tay Thanh:

    - Em đâu có lỗi gì sao lại xin chị.

    Và Mỹ-Hằng như chấn an:

    - Mới đi mà đã nhớ nhà rồi phải không.

    Nhưng Thanh không trả lời. Thanh đưa lá thơ cho Mỹ-Hằng, Thanh bình tĩnh:

    - Thơ của Huy đưa cho em tối qua. Bây giờ em mới có giờ đọc.

    Sơ Mỹ-Hằng xiết chặt tay Thanh:

    - Em có ân hận không?

    Thanh thản nhiên:

    - Em chỉ phân vân, có lẽ vì tội nghiệp Huy vì em mà Huy đã tình nguyện đi lính.

    Mỹ-Hằng suy nghĩ rồi lại hỏi Thanh:

    - Từ trước có bao giờ em tìm cho em câu trả lời là em còn tình cảm với Huy không?

    Thanh đắn đo:

    - Hình như em chỉ phớt qua, vì em luôn lấy sự hiến dâng làm quan trọng hơn tình yêu.

    Mỹ-Hằng đẩy lá thơ và chiếc hộp vào trong bàn tay Thanh, rồi nói:

    - Thơ của Huy viết cho em, chị không thể đọc. Nếu chị đọc chị sẽ có lỗi với Huy và cả em

    Thanh như không hiểu, nhìn Mỹ-Hằng. Nhưng Mỹ-Hằng nhìn Thanh thông cảm vừa nói nhỏ:

    - Sự chiến đấu tình cảm nội tâm của một nữ-tu rất nan giải, đôi khi còn làm cho chúng ta trở nên tắc nghẽn tới điên dại. Nhưng nếu chúng ta biết cậy trông vào Thiên Chúa, xin Ngài luôn soi tỏ và cho chúng ta ấn chỉ trong lời cầu nguyện, chúng ta sẽ trải qua.

    Mỹ-Hằng trầm ngâm:

    - Thực ra chị đã trải qua không biết bao thử thách về tình cảm trước khi chị quyết định khấn trọn đời. Chị khác với em, và có lẽ không được may mắn như em, vì sống ở Sàigòn, các thanh niên thiếu nữ đều rất dễ bị chưng dụng theo đường hướng của ma qủy. Có một thời ai cũng như yêu cuồng sống vội. Họ rất dễ sai bỏ những luân lý, đạo đức để sống theo vật chất và xác thịt. Những người con gái không còn để ý tới giữ mình. Mà chẳng phải chỉ ở Sàigòn không, ngay cả ở tỉnh Biên-Hòa, gần đây, các nữ sinh trung-học cũng gây chấn động cho giới phụ huynh. Các nữ-sinh trung-học bảo nhau viền quần lót mầu hồng với gấu thật lớn, để khi vận quần dài trắng mỏng, viền gấu nổi, khiến ai nhìn cũng quên đi chiếc quần dài mà chỉ nghĩ tới lãng mạng và sự gợi dục nào đó. Báo chí đã khai thác và coi như một hiện tượng mới. Em biết các nhà báo khi họ đã cố tình, thì ngọt thành mặn, mà mặn thành ngọt. Họ đã viết những bài mô tả về sự gợi dục của các nữ-sinh có tinh thần đổi mới. Em nghĩ coi, còn đâu là phép tắc khuê các của người thiếu nữ Việt.

    Ngừng một chút, Mỹ-Hằng thở dài, rồi tiếp:

    - Vì sống giữa phồn hoa, bố mẹ chị lại quen nhiều, nên bạn bè ngao du không ít. Chị đã từng tưởng yêu, và cũng từng được yêu. Những người con trai theo chị khá nhiều. Trong đó cũng có kẻ chân thành, nhưng thường là lợi dụng lẫn nhau. Thời đó, chị dùng sắc đẹp, dùng sự sang trọng của gia đình mà Chúa ban, lúc nào cũng sẵn sàng có người chiều đãi chị. Chị muốn lên Đà-lạt, muốn đi Vũng-tàu.. chị chỉ hé môi là có người sẵn sàng không đắn đo. Chính vì thế mà khi chị quyết định đi tu, không một ai có thể tin tưởng là chi đi yu được. Nhưng họ đâu biết rằng, chị càng ngao du với bạn bè, chị càng cảm thấy sự dị biệt trong lòng mình, chị luôn thấy sự trống vắng, chị lại càng tạo ra những thử thách mới để chị tìm chính chị. Nhưng càng tìm, càng sa đoạ, thì một tiếng gọi văng vẳng nào đó càng rõ ràng. Em thấy đó, nếu là em, phải bỏ đi tất cả bạn bè như chị em có lỡ không?

    Thanh không còn khóc, nhưng âm hưởng của lá thơ vẫn còn, nên Thanh ngồi im không trả lời. Mỹ-Hằng lại tiếp:

    - Trong một kỳ nghỉ hè tại Đà-lạt, cùng đi với chị là người bạn gái, có người anh tu và đang học tại giáo-hoàng học-viện. Tình cờ chị được người bạn mình cho đọc cuốn sách nói về cuộc đời thánh Augustino giám-mục. Thú thật, lúc bắt đầu đọc, chị vẫn chỉ đọc như phải đọc và không hề có khái niệm gì. Nhưng sau này, nhất là những ngày trước khi chị vào nhà-tập, thì những trang sách đó như những bài giảng qúy giá nhất trong đời chị. Có lẽ đây là một sự đánh động mà Thiên Chúa đã dùng để thánh hóa chị. Một người xa đọa, tội lỗi và bất chính như vậy lại có thể trở thành giám-mục và tiến-sĩ của giáo-hội, chúng ta mới thấy rằng, không một điều gì mà Thiên Chúa không có thể không làm được, miễn là chúng ta biết trông cậy nơi Ngài.

    Ngừng một chút, đổi thế ngồi. Mỹ-Hằng lại trầm trầm:

    - Nhưng sự đánh dấu trong đời tu chị rất mạnh đó là một tuần lễ trước ngày khấn trọn đời. Mẹ bề-trên đã gặp chị mỗi ngày, và ngày nào mẹ bề-trên cũng giải thích đắn đo mọi lẽ, và cùng cầu nguyện với chị để chị có một quyết định chắc chắc. Vì em biết, khi một nữ-tu đã khấn trọn đời, là tình nguyện thánh hiến và sẽ không được tháo gỡ. Chính vì thế, mẹ bề-trên đã cho chị một sự ngạc nhiên không ít. Không biết em có biết rằng, nhà dòng không bắt buộc các nữ-tu phải trình tất cả những thư có tính cách tình cảm, nhưng nhà dòng khuyên là nên cho mẹ bề-trên biết về những tình cảm riêng tư, để có thể cố vấn và giúp đỡ lẫn nhau. Hơn nữa, đời sống nữ-tu là một đời sống khiêm nhường và trong sạch, thì có hệ chi phải gấu giếm nhà dòng phải không em? Nên ngay trước khi vào nhà-tập, chị đã xin mẹ bề-trên, cho chị sau này được tuyệt bỏ tất cả những tình cảm lăng nhăng trước đây, để chị chuyên cần trên con đường mới mà chị đã quyết định lựa chọn. Nên từ đó, mẹ bề-trên đã cho giữ hết tất cả những thư từ mà các sơ trách nhiệm biết không phải là thơ từ bố mẹ chị gửi vào. Mẹ bề-trên đã cất trong một hộc riêng, dĩ nhiên những lá thơ đó chưa hề được mở. Mãi tới ba ngày trước khi chị khấn trọn đời, Mẹ bề-trên mới đưa cho chị. Chị chưng hửng, và xin mẹ bề-trên cho phép chị không đọc những lá thơ đó. Nhưng mẹ bề-trên đã lấy giọng rất đôn hậu bảo chị: “ Chị nghĩ là em nên đọc, vì nếu em không đọc bây giờ, em cũng phải đọc sau này. Ba ngày nữa em khấn, em phải tìm hiểu rõ ràng tình cảm của mình bằng phương pháp nhìn thẳng vào sự thật chứ không phải trốn tránh. Người nữ-tu chọn ngày khấn trọn đời mới là ngày khởi đầu thực sự của đời tu sĩ. Do đó, chẳng lẽ em lại bắt đầu đời sống tu trì thật sự bằng sự trốn tránh sao? Ở đời này, điều mà con người lo sợ và hay chạy trốn nhất em biết là gì không? Đó là lương tâm. Con người luôn tưởng có thể dùng vật chất, dùng tình cảm, dùng luân lý đạo đức để che giấu những điều lầm lỗi là xong, nhưng không, nếu thực sự có những lầm lỗi trong ta, thì dù có che đậy thế nào cũng không tránh được lương tâm kết án. Có khác là con người cố tình chối bỏ lương tâm, nhưng khổ là càng chối bỏ, con người càng tiến tới đường cùng. Vì thế lương tâm quả là điều đáng sợ, nhưng lại cũng là điều đáng yêu nữa, nếu chúng ta dám nhận”. Khi nghe mẹ bề-trên giải nghĩa, chị vẫn nơm nớp lo sợ. Vì lúc đó chị vẫn chưa chối bỏ được những mặc cảm tội lỗi chị đã trải qua trước kia. Chị thấy, chị đáng ghét và đáng luận phạt, nhưng khi chị nhắc tới điều đó với mẹ bề-trên, thì mẹ bề-trên chỉ mỉm cười bảo chị: “Như vậy là em ghét kẻ có tội chứ em đâu có ghét tội phải không”. Chị nghe thế, chị đã phải cố gắng giải thích, dĩ nhiên đời sống Kitô-giáo không cho phép con chiên ghét kẻ có tội mà chỉ ghét tội mà thôi. Nhưng mẹ bề-trên vẫn cười: “Người ta viết cho em là vì người ta có cảm tình đặc biệt với em, điều quan trọng là khi đọc xong, lòng em đón nhận và nghĩ thế nào. Chị khuyên em, trước khi chính thức khấn trọn đời nên mổ xẻ cho kỹ, đừng để ngày bắt đầu lại là ngày cuối thì sẽ mất hết sự cao cả lãnh nhận”. Cuối cùng chị vâng lời mẹ bề-trên. Tối hôm đó, chị đã đọc gần ba trăm lá thơ của năm người bạn trai và mười người bạn gái. Em biết chị đã khóc, đã sầu khổ, đã lo sợ thế nào không?

    Mỹ-Hằng như sống dậy thuở nào, mặt trầm ngâm. Mãi sau mới lên tiếng:

    - Khởi sự là chuyện tình của Đức. Người bạn trai trong một gia đình Phật-giáo gia phong, bề ngoài lúc nào cũng trầm ngâm, nhưng rất sôi nổi. Đức đã cạo đầu sau khi đã viết cho chị mấy chục lá thư nhưng không được hồi âm. Lúc đầu Đức đã tả chị như là một thiên-thần, mà Thượng-đế đã gửi xuống trần gian, để mang lại tình yêu và lẽ sống cho Đức. Nhưng sau, Đức lại ví chị như loài satan đã hút đi nguồn sống của Đức. Mỗi một nét chữ là mỗi mũi kim em ạ. Lá thư cuối cùng là lá thư Đức chỉ vỏn vẹn một hàng chữ duy nhất: “Đức xin từ giã thế gian muộn phiền và từ giã satan của tình yêu”. Và chỉ có một dòng duy nhất đó mà thôi. Nhưng quả đã làm chị khủng hoảng thực sự, vì không biết rồi Đức sẽ ra sao? Đức có vì thế mà quyên sinh không. Từ đó mặc cảm tội lỗi đã khiến chị hối hận bàng hoàng. Nhưng cũng may, sự tôi luyện của nhà dòng và những lời khuyên nhủ bằng lời cầu nguyện chung của mẹ bề-trên sau này đã giúp chị lấy laị sự tự tin, nhưng cũng phải trả một số luợng thời gian không ít. Rồi tới chuyện của Kha, của Ngạn.. chị phải chiến đấu vô tận với những lời nhớ thương, những tình cảm bộc phát được trải ra từng chi tiết trên trang giấy. Khổ nỗi, những người bạn trai của chị thường ngao du trước kia thường

    là người không cùng tôn giáo với chị. Vì thú thật với em, chị có lúc đã thử Thiên Chúa bằng những thách đố ngạo mạn không bình thường. Do đó, chị bỏ thánh-lễ ngày chủ-nhật là chuyện rất bình thường. Dĩ nhiên mẹ chị không biết gì về chuyện đứa con gái cưng, bề ngoài thì ngoan hiền, nhưng nghịch ngợm và đủ chước. Kha còn kèm theo những lá thơ bằng những hình ảnh dâm loạn mà Kha gửi mua từ bên Pháp, bên Nhật. Chị hiểu Kha, hiểu Ngạn, tất cả đều chỉ muốn dùng mọi cách để lôi kéo chị tránh xa đời tu, mà mọi người tưởng là một cuộc đời trói buộc không đúng với đời sống tươi mát của chị.

    Mỹ-Hằng nhìn Thanh, Thanh vẫn lắng nghe trong tâm trạng thông cảm bồi hồi của một sự tự tin nào đó vừa chớm nở. Mỹ-Hằng tiếp:

    - Nhưng chưa hết đâu em. Chuyện của Bạch-Trúc, người bạn gái của chị cũng làm chị hôn mê không kém. Vì chị chưa bao giờ nghĩ tới đồng tính luyến ái có thể xảy ra giữa chị và bạn chị. Thì chuyện đó lại là hiện thực khi lá thư của Bạch-Trúc đã không che giấu, tỏ tình như mối tình của một người nam và một người nữ. Điều này đã càng làm chị khinh tởm chính chị. Và chị đã tự hỏi bao nhiêu lần câu hỏi vì sao? Làm sao chị có thể tin người bạn gái thân qúy của chị lại đối xử với chị như thế. Chị nào có bao giờ nghĩ tới Bạch-Trúc coi chị như người tình, vì thế chị đi rồi, Trúc đã bị bệnh rất nặng mà Trúc gọi đó là bệnh tương tư. Trúc nói, Trúc sẽ về Huế sống đời ẩn dật, nhưng lại không cho chị biết gì hơn. Em thấy không, ở hoàn cảnh chị, một người đang tắm trong hồ tắm phẳng lặng của tình yêu Thiên Chúa, chị phải làm gì để có thể trải qua những xúi dục và cám dỗ này. Và quả, chỉ có cầu nguyện, chị đã cầu nguyện và qùy cả giờ để lắng nghe Chúa tâm sự với chị. Nhờ đó chị mới đứng vững, để chị có đủ can đảm kể lại hết sự thể, từng những lời lẽ quyến rũ đầy xúi dục xác thịt cho mẹ bề-trên. Và chính mẹ bề-trên cũng kinh hoàng bảo chị: “Đây có lẽ là sự thử thách mà Chúa muốn em phải đón nhận trước khi em khấn. Em suy nghĩ và phải đánh tan tất cả những ươn hèn mà ma quỷ quấy rối em”. Mẹ bề-trên còn đăm chiêu nói với chị: “Trong tất cả các tu-viện, chuyện đồng tính luyến aí là mối lo ngại không ít. Vì nơi đây là nơi quy tụ các đệ-tử cùng phái. Chị có nghe các sơ đi du học về nhắc nhở, ở các nước Âu-châu, con người ta rất tác loạn và coi vấn đề đồng tính luyến aí như một bình thường. Họ còn đòi hỏi chính-phủ phải chấp nhận những người đồng tính luyến ái cũng có quyền hưởng tất cả quyền lợi như những cặp vợ chồng bình thường. Nhưng em thấy, Chúa tạo dưng ra người nam và người nữ là đã rõ ý định của Ngài. Vì thế, mọi việc phản với thiên nhiên theo đường lối Chúa đều mang tội phải không em. Nhưng chị phải nói, đối với người Việt-Nam vẫn chưa nghe quen, đừng nói là chấp nhận. Do đó, nhà dòng rất lưu ý các đệ-tử và nữ-tu về chuyện này. Em phải cẩn thận, sau này có dịp, phải cố gắng giải nghĩa và hướng dẫn bạn em tránh được sự bất bình thường này em nhé. Có thể em được Chúa ban cách riêng, nên người dùng theo đường lối riêng của Ngài”. Hôm nay, chị kể kỹ cho em, chị nhắc lại cho em thêm một lần nữa, là không phải chị khoe khoang có nhiều người để ý tới chị. Vì chị khẳng định rằng, mỗi người con gái đều có những đặc biệt, và tùy hoàn cảnh thôi em. Như em, dù khác hoàn cảnh sống, nhưng em cũng biết bao nhiêu người theo đuổi em phải không. Do đó, em hãy can đảm, suy nghĩ và chín chắn, đừng vì sự thương xót hay tiếc nuối mà quên đi những việc khác mà Chúa đã sẵn đợi ta.

    Thanh quay qua nhìn Mỹ-Hằng lòng đầy tự tin:

    - Em cám ơn Sơ, Sơ đã cho em niềm tin và cho em sự sáng suốt. Quả thực, khi đọc bức thư của Huy, em có phân vân rất nhiều, và trong sự phân vân đó, còn có cả sự thương yêu lẫn lộn mà em không có thể trải ra. Nhất là lúc này, giữa lúc sáng tối chưa phân định rõ ràng. Cũng may cho em, được sơ thổ lộ đời sống của sơ làm em can đảm hơn nhiều.

    Nhưng Mỹ-Hằng trầm ngâm, lúc sau mới tiếp:

    - Sau hôm đọc xong những bức thư, và được mẹ bề-trên khuyên nhủ, chị đã xin mẹ bề-trên cho chị một thời gian để chị có cơ hội suy nghĩ chín chắn hơn. Vì kể từ hôm đó, tâm hồn chị luôn dầy vò bởi từng hình ảnh của các bạn chị. Chi bị ma qủy thách đố từng giây. Chị sợ nhất là những đêm thanh vắng, lòng chị ngổn ngang những đòi hỏi bất tận. Từ những ồn ào rong chơi, tới những khát khao cuồng nhiệt thuở xưa, lúc nào cũng sẵn sàng mời gọi. Có những đêm, chị qùy hàng giờ để hãm mình cầu nguyện. Lòng chị có lẽ chưa bao giờ bị cô đơn khiếp sợ đến thế. Em chưa trải qua những giây phút tuyệt vọng vì dồn ép bởi những quyến rũ xác thịt mà ma qủy nó tinh quái dùng sự hồi tưởng như cuốn phim với đầy nghệ thuật, mỗi màn ảnh là mỗi hấp hối của chiều lụy. Chị thoi thóp, khắc khoải và tê dại toàn thân. Lý chí chị cũng bị kiên cố bao trùm bởi ma qủy. Cuối cùng, chị phải kêu gào sự giúp đỡ của mẹ bề-trên. Tuyệt diệu thay, mẹ bề-trên đã lấy độc trị độc. Mẹ không cho chị trốn chạy, mà khuyên chị nên thẳng thắn đón nhận những điều nếu phải xảy ra. Mẹ bề-trên còn khuyên chị nên về nghỉ mấy tháng chờ lắng đọng lòng mình, tìm hiểu, nếu cần gặp tất cả những người bạn xưa, hội ngộ, và nói tất cả điều mình muốn nói. Mẹ bề-trên luôn dặn chị, nếu chị dùng trốn tránh để giải quyết vấn đề, thì chắc chắn một ngày nào đó chị sẽ bị thất bại. Vì dẫu sao, nếu thực sự có gì xảy ra không may cho Đức, dù biết không phải trực tiếp, nhưng cũng gián tiếp phải không em. Cuối cùng, chị xin mẹ bề-trên cho chị hoãn lại một kỳ, chị hứa với mẹ bề-trên là sẽ vâng lời để về hai tuần và chỉ hai tuần, sau đó chị sẽ trở lại nhà dòng tiếp tục tu đức để sẵn sàng cho kỳ khấn tới. Mẹ bề-trên mỉm cười không nói, nhưng chị hiểu ý mẹ bề-trên. Tuy nhiên, hình như trong chị đã được ơn của Chúa, nên sau những ngày cấm phòng và hồi tâm suy nghĩ, chị đã thấy ở đời thật sự không có gì bằng lòng thành khẩn, chị sẽ lấy lòng thành khẩn để gặp các bạn chị, và chị cũng dùng lòng thành khẩn để bầy tỏ những gì mà lòng chị hằng mong đợi. Chị không trốn tránh, và nếu cần chị sẽ chứng minh bằng đời sống đức tin.

    Mỹ-Hằng ngừng nói. Thanh nhìn khuôn mặt Mỹ-Hằng, một khuôn mặt thật đều đặn với làn da trắng ngần. Nhất là khuôn mặt đó bây giờ được mang trong chiếc mào trắng trông dịu dàng và tuyệt mỹ như một thiên-thần trần thế. Thanh tự nghĩ, với khuôn mặt và dáng Mỹ-Hằng, trước kia có nhiều người thương cũng chỉ là chuyện thường, nhưng điều mà Thanh lo ngại, là không biết sau này có còn chuyện tình oái oăm nào nữa không. Vì biết bao người đã không ngần ngại tìm tình yêu trong chiếc áo dòng một cách điên cuồng, bất chấp ngăn trở, dù biết chỉ là tình tuyệt vọng.

    Thanh còn đang mải mê suy nghĩ, Mỹ-Hằng lại lên tiếng:

    - Hôm chị từ nhà dòng về thăm gia đình. lần đó chị đã không vận áo dòng, bố tưởng chị đã xuất, nên bố chị thật vui mừng khi thấy chị trở về, nhưng chị giãi bầy cho mẹ chị nghe qua, chị chỉ về nghỉ hai tuần, bố đã tìm đủ cách cho chị gặp lại các bạn chị, chị hiểu ý bố, nhưng chị bình thản. Điều này càng làm bố lẫn mẹ hy vọng lòng chị đã có chút biến đổi và đang bị đời sống tình cảm xưa làm đảo lộn cuộc sống hiện tại của chị. Tuy nhiên, chị để bố mở “party” mừng chị. Đêm hôm đó chị khiêu vũ, ca hát cùng các bạn bè như không có gì xảy ra trong chị. Nhưng một điều làm chị không an tâm là Đức và Bạch-Trâm đều không có mặt. Chị có hỏi vài người bạn, không ai biết cả hai người hiện ở đâu. Dĩ nhiên các bạn chị không biết gì chuyện tình cảm Đức và Bạch Trâm dành cho chị. Nhưng chị cũng đã lợi dụng tối đa để tìm cách nói chuyện với Ngạn và Kha. Chị đã như lời hứa là dùng tất cả sự chân thành để xin hai người giúp chị và chúc mừng cho con đường mới mà chị đã chọn. Thật không dễ, nhưng cũng may, chị đã chinh phục được cả hai trong hoàn cảnh không ngờ. Dẫu sao, Ngạn và Kha không phải là đối tượng lo lắng khiến chị trở về nghỉ kỳ đó mà là Đức. Vì thế, ngay ngày hôm sau, chị đã lục lọi và tìm đủ cách. Cuối cùng, nhờ Chúa thương, chị đã đến tận nơi Đức ở. Thật là một bất ngờ, Đức thật bình an và đang sống trong một gian nhà có khung cảnh rất thơ mộng tại Bình-Dương. Khi Đức gặp chị, Đức đã trân trân nhìn chị như kẻ mất hồn. Nhưng khi thấy chị vẫn vui vẻ bình thường, Đức dần lấy lại bình tĩnh, nhưng Đức vẫn không giấu nổi sự ngượng ngùng, nhất là khi Đức hỏi chị: “ Bố Hằng cho Hằng biết địa chỉ Đức”. Chị ngạc nghiên tự hỏi: “ Tại sao bố chị lại biết địa chỉ Đức”. Tuy nhiên chị chỉ nghĩ trong lòng, nhưng bề ngoài làm như không để ý tới điều Đức hỏi, chị từ tốn bảo Đức: “ Không phải bố Hằng”. Đức nghe chị trả lời, Đức thở dài. Từ đó, chị thấy Đức tư lự hơn.

    Mỹ-Hằng đang nói, xe đò vòng qua bên phải khiến Thanh ngả trên người Mỹ-Hằng. Thanh cố gắng giữ người ngồi cho vững, Mỹ-Hằng bảo Thanh:

    - Ông tài này chạy nhanh qúa, từ nãy giờ, xe nào ông ấy cũng qua mặt.

    Rồi Mỹ-Hằng nói tiếp:

    - Nhưng chị cũng phải mất công lắm mới thuyết phục được Đức. Chị nghĩ, nếu không có ơn soi sáng, không khi nào chị có thể làm Đức thổ lộ điều mà chính chị cũng không thể nào tin, dù chị biết Đức không đặt điều, vì nó quá quan trọng, lại liên quan tới bố chị, người mà chị lúc nào cũng tin tưởng và kính nể. Đức đã không ngần ngại kể từng giai đoạn, từ lúc Đức quen chị, tới lúc có cảm tình và yêu chị. Nhưng vì Đức tin ở mình, tin ở sự bền tâm nên Đức tưởng chần chờ cho tới lúc chín mùi và thuận tiện sẽ tỏ tình với chị. Chính vì thế, khi hay tin chị đi tu, Đức đã như người mất hồn, và vì Đức không tin chị có thể bỏ đời sống thế gian với tương lai rực sáng đang chờ đợi, để ẩn mình trong chốn mà Đức nghĩ không khác gì những người làm không công, nhất là lại phục vụ những nơi mà người đời khinh tởm, nào là trại cùi, nhà thương điên, và tất cả những nơi cùng bần trong xã hội.. Vì thế Đức đã tìm đủ cách để làm chị động lòng. Đức đã viết thơ liên tiếp nhưng không một lá thơ hồi âm. Do đó Đức đã tìm đến bố mẹ chị để hỏi thăm chị còn ở nhà dòng, hay đã di chuyển đi nơi khác, thậm chí Đức còn tưởng chị đã ra và cố tình trốn Đức. Ngờ đâu, bố chị đã lợi dụng tình cảm chân tình của Đức đối với chị, nên đã tiếp đãi Đức rất chân tình, con hứa sẽ giúp đỡ, chuyển thơ Đức cho chị, và còn đủ điều. Đức nào ngờ, Đức đã rơi vào bẫy của bố chị. Vì chị biết tính bố của chị, muốn tìm mọi cách để lay chuyển lòng chị không được, nên bề ngoài tỏ ra khuất phục, nhưng trong lòng vẫn chưa chịu buông tha. Chính vì thế, bố đã cố vấn cho Đức đi từ sự cao cả để đánh động lòng chị, sau vì vẫn không thấy thơ trả lời, Đức đổi chiến thuật bằng những lời kết tội điên cuồng xấu sa, miễn là làm cho chị phải trả lời. Ngờ đâu tất cả thư từ đã được mẹ bề-trên, theo lời yêu cầu của chị, đã cất và mãi sau này mới trao cho chị. Thực ra, không phải Đức không yêu chị tha thiết, nhưng chính vì sự tha thiết ấy đã khiến Đức mù quáng và bất chấp, nhất là lại đi cùng xuồng với bố người mình thương thì còn gì bằng.

    Mỹ-Hằng như vẫn còn nghĩ ngợi về chuyện xưa, nên một chút trầm ngâm rồi tiếp:

    - Chị rất buồn khi nghe tới đây. Đức không giấu chị điều gì. Đức cũng không hề trách bố chị, Đức còn tìm cách bào chữa cho bố chị chỉ vì bố chị thương chị quá độ mới làm như vậy. Thực ra chị không phải không hiểu tính bố chị. Một người luôn lấy tiền bạc và danh vọng làm lẽ sống và tiêu chuẩn của cuộc đời. Bố chị cho tới lúc đó vẫn chưa tin chị có thể bỏ tất cả để đi tìm một việc, mà Bố chị nghĩ chị không có thể cam chịu. Nhưng bố chị nào hiểu rằng, tiền bạc thật giới hạn đối với những người đã không còn coi tiền bạc là cứu cánh của cuộc sống. Đồng tiền cũng không thể nào mua được niềm hạnh phúc vĩnh cửu, nếu đồng tiền đó bị nô lệ, và xu hướng không đâu. Bố chị cũng không thể nào hiểu và thông cảm cho chị, là từ những ngày chị không còn giữ tiền là những ngày chị tìm được bình an và hạnh phúc thật. Do đó, chị đã kể cho Đức đời sống của chị sau này. Nhất là chị xác nhận con đường chị đi là con đường duy nhất chị chọn. Chị sẽ không bao giờ thay đổi ý định, ngoại trừ Chúa an bài và không muốn cho chị theo con đường chị đang chọn. Nếu quả việc đó xảy đến, chắc chị sẽ đau khổ và tiếc nuối vô cùng. Mọi việc nhờ Chúa quan phòng. Đức đã thật tình xin lỗi chị về những lời thơ khiếm nhã đã gửi cho chị. Đức cũng xác nhận, sau khi thấy không lay chuyển được chị, Đức đã lay chuyển chính Đức, nên Đức mới tìm được căn bản sống và di chuyển về đây. Hiện Đức và cô giáo dậy cùng trường đang chuẩn bị đính hôn. Chị thở phào và vui mừng khôn xiết. Chị đã làm tuần khấn để đội ơn Đức Mẹ đã phù hộ cho chị.

    Mỹ-Hằng miệng lâm râm, lại nói:

    - Riêng Bạch-Trâm, sau khi nói chuyện với Đức, về Sàigòn, chị tìm đến Sáng, chị họ của Trâm. Sáng cho biết, Trâm đã lo thủ tục xuất ngoại. Em thấy không, cầu nguyện vẫn là liều thuốc thần diệu. Chị phải cám ơn mẹ bề-trên đã cho chị về, nếu không chị sẽ bị lương tâm áy náy cả đời. Hơn nữa, nhờ lần phép đó, bố chị cũng thay đổi hoàn toàn. Chị nhớ, ngày chị trở lại nhà dòng, bố chị chỉ trán chị nói: “Bố chịu thua con”. Ngoài miệng chị chỉ mỉm cười, nhưng trong lòng chị chưa bao giờ vui đến thế, vì từ ngày vào nhà dòng, không ngày nào chị quên cầu nguyện cho bố mẹ chị đừng trọng vật chất, hãy dùng vật chất Chúa ban làm việc phúc đức, vì của cải thế gian này chỉ là của tạm bợ. Dù cho chúng ta có tiền rừng bạc bể thì bao tử chúng ta cũng chỉ chứa được giới hạn số lượng nào đó mà thôi. Thế thì tại sao chúng ta không san sẻ cho người khác, để rồi nếu Chúa có gọi, chúng ta còn được ơn phúc, nếu không náo chúng ta nào có thể mang theo được gì khi rời khỏi chốn trần gian này.

    Thanh ngồi lặng suy tư, một niềm rạo rực của chân lý rực sáng. Ngọn lửa của tình yêu vô tư như tràn lan. Lòng Thanh ngọt lịm trong hân hoan đuợc Chúa chúc phúc, để rồi tối thiểu giờ này, Thanh được ngồi bên Mỹ-Hằng nghe những lời tâm sự chân thành, để thấy mình thật may mắn vì không phải trải qua những thử thách, mà với Thanh thật đầy cam go.

    Bỗng Thanh nhìn ra ngoài cửa kính. Cảnh vật như còn chìm trong hơi sương đang đuổi dài trên ánh nắng mầu hồng chan chứa sự bình yên dịu dàng. Thanh quay lại nhìn Mỹ-Hằng. Một ý định chợt đến:

    - Em nhờ sơ giúp em một việc được không?

    Mỹ-Hằng nhìn Thanh mỉm cười:

    - Dĩ nhiên, miễn điều đó không ngoài sức của chị.

    Thanh lễ phép:

    - Em đâu giám phiền sơ điều gì quá đáng.

    Rồi Thanh cẩn thận xếp lá thơ lại như cũ, rồi bỏ vào hộp nhỏ mà Huy đã gửi cho Thanh, sau đó Thanh ân cần đưa cho Mỹ-Hằng:

    - Em nhờ sơ chuyển lại cho Huy, xin sơ nói là em đã đọc rồi. Em cám ơn Huy đã nghĩ tới em.

    Mỹ-Hằng nhìn Thanh chưa cầm vội, hỏi Thanh:

    - Tại sao em không giữ?

    Nhưng Thanh đã nhanh nhẹn:

    - Em muốn Huy không còn nghĩ tới em. Em đã có tình yêu, em không muốn để Huy tiếp tục hy vọng. Vả lại, em không muốn xé lá thư hay vứt bỏ tình cảm chân thật của Huy dành cho em. Em biết mình mâu thuẫn, nhưng em không thể làm tôi hai chủ, sơ nghĩ có đúng không?

    Mỹ-Hằng đón lá thư từ tay Thanh cẩn thận bỏ vào túi, rồi điềm tĩnh bảo Thanh:

    - Sự gì không dứt khoát cũng khó tạo thành công. Em nghĩ cũng phải. Để chị đưa cho Huy và tìm lời nói khéo cho Huy khỏi buồn, hơn nữa, chị tin Huy là người rất hiểu biết, Huy sẽ đón nhận được thực thể. Vì thực ra, nhà dòng cũng muốn, khi em đã là một đệ-tử sinh, thì những bâng khuâng tình cảm thế gian không còn làm em phải xao lãng. Từ xưa, tình cảm trai gái vẫn luân mang một sắc thái khó hiểu, nhưng không có nghĩa là chúng ta không thể giải quyết, nếu chúng ta thật tâm. Như bản thân chị, chị chưa bao giờ phủ nhận tình yêu, mà chị chỉ cố giữ tình yêu phát triển đúng môi trường của mình đang sống. Nhiều lúc chị thường bảo mình: “Tình yêu trai gái có phải là một sự phức tạp được kết hợp giữa ánh sáng và bóng tối, và tùy sự chấp nhận của chúng ta để, có thể là một bầu trời rực sáng, hay sẽ chìm trong bóng đêm dầy đặc”. Do đó, sự đón nhận tình cảm tự nó không là một điều đáng trách và sai trái, nếu chúng ta biết đón nhận nó như là một ân huệ Chúa ban. Nhiều người lầm tưởng những người nữ-tu khi đã chấp nhận đời sống tu hành thì không còn có quyền yêu đương, chị nghĩ không hẳn vậy. Những nữ-tu vẫn có tình cảm, và vẫn có những thương yêu, chỉ khác là phải biết thăng hoa tình yêu của mình để thánh hoá bản thân và ngay cả người mình yêu. Vì Chúa không bao giờ cấm đoán con người ta phải xa lánh tình yêu, mà Chúa chỉ đòi hỏi là hãy yêu trong thánh thiện. Vì thế, trả lại thơ Huy, chị biết không phải là em cắt đứt tình cảm với Huy, mà em chỉ muốn xác nhận một tình cảm mới, là hãy yêu nhau trong lời cầu nguyện, nếu không, chị nghĩ em sẽ chẳng giữ bức ảnh và sợi dây chuyền của Huy tặng em phải không? Điều mà chị tin tưởng nơi em, là em có can đảm lãnh nhận, để nhờ đó em biết em và soi tỏ được lòng em lúc này.

    Thanh nghĩ, Thanh phải cám ơn Mỹ-Hằng thật nhìều, nên Thanh tha thiết:

    - Em đã thật may mắn được sơ hy sinh ngày nghỉ để dẫn em đi hôm nay. Vì nếu không có sơ, em khó lòng được nghe những lời chân tình và qúy giá thế này. Em hứa sẽ hết mình tu đức để không chỉ bố mẹ em, cha xứ mà cả sơ được yên lòng.

    Nhưng Mỹ-Hằng đã khéo léo:

    - Em phải nói cho chính em yên lòng chứ?

    Thanh hiểu ý nên cũng mỉm cười:

    - Vâng.

    Vừa lúc đó, xe dừng rước khách. Vài em nhỏ quần áo rách rưới xô nhau đến sát cửa kính xe mời hàng. Thanh quay qua Mỹ-Hằng, nhưng thấy Mỹ-Hằng đang chăm chú nhìn một em bé gái đầu tóc rối bời trong chiếc áo mầu nâu rách nát, đang cố gắng len lỏi qua những người bạn với đôi nạng gỗ thật thê lương. Bất giác Mỹ-Hằng như rớm nước mắt bảo Thanh:

    - Nước mình đã nghèo, chiến tranh còn tàn khốc giết chết bao tâm hồn trẻ thơ. Em hãy nhìn, đây chỉ là một trong hàng triệu triệu hình ảnh tan thương khác. Những đứa trẻ đáng lẽ đang tuổi cắp sách đến trường thì đã phải vất vào cuộc đời bằng những hôi tanh chán chường. Vì thế sao chúng ta có thể ngồi yên. Chị nghĩ, con người cần cởi mở và thương yêu nhau nhiều hơn để chia sẻ lẫn cho nhau từ miếng ăn manh áo, vì Chúa đã chẳng nói: “ Nếu ai nói thương ta, mà không thương anh em mình, là những kẻ nói dối”. Mỗi lần chị qua đây, lòng chị càng nặng niềm tâm sự. Do đó, chị ao ước một này nào đó được phép mẹ bề-trên cho chị đi săn sóc những người bệnh hoạn ngặt nghèo như trại cùi, hay những người tê liệt kinh niên. Chị đã xin mẹ bề-trên nhiều lần, nhưng hình như mẹ bề-trên muốn trái ý chị để tôi luyện đức vâng lời của chị.

    Nói tới đây, Thanh thấy Mỹ-Hằng rơm rớm nước mắt. Bỗng mắt Thanh cũng cay cay, Thanh chợt nhớ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Mỹ-Hằng đã vừa đốt cho Thanh một ngọn lửa mới, ngọn nến của tình yêu tha nhân...

     

     

    (Còn tiếp) 

     

     

    (11/10/2014)
  • TTVDDT 19 - Phần 14
    TTVDDT 19 - Phần 14

     

     

    Text Box: Trang           Truyện dài  
                 
                     (Đăng liên tiếp nhiều kỳ)
 

     

     

     

     

     

    Tìm Nhau Từ Thuở, Truyện Dài của Xuân Vinh

    Lời Giới Thiệu : Của Doãn Quốc Sỹ

    Điểm : của Tạ Xuân Thạc

     

    Từ quyển 15. Tuyển Tập Đồng Tâm (TTĐT 15). bắt đầu đăng tải truyện dài mới nhất của GS NGUYỄN XUÂN VINH, Bút hiệu Xuân Vinh do nxb VĐĐT xuất bản (2008)

     

    TÌM NHAU TỪ THUỞ

     

    Lời Giới Thiệu: Của Doãn Quốc Sỹ

    Điểm sách: của Tạ Xuân Thạc

    Ảnh bìa: Hoạ phẩm của Doãn Quốc Vinh

     

    ÎÍ

    Lời giới thiệu của Nhà văn Doãn Quốc Sỹ

    Tôi đọc câu truyện tình Tìm Nhau Từ Thuở của nhà văn Xuân Vinh khiến tâm hồn trẻ trung hơn. Người ta bảo rằng tuổi trẻ hướng về tương lai, người cao niên hướng về dĩ vãng. Có phải vì vậy mà Xuân Vinh đã tạo dựng cốt truyện và dùng văn phong của thế hệ trăng tròn? Tôi xin mời bạn đọc để thấy rằng những gì mà tác giả gói ghém trong hơn hai trăm trang sách này. Nhà văn Xuân Vinh không ai khác hơn là người bạn dạy toán tại trường Chu Văn An năm nào. Anh đi về kỹ thuật không gian và toán học, nhưng lại rất thích thú với văn chương. Phải nói là anh có đam mê với những gì mà anh đi theo. Anh có đam mê toán học, cũng như đam mê viết văn. Theo triết gia Jean Paul Sartre lý luận về sự đam mê trong khái niệm con người được tự do theo đuổi: "L’homme est une passion inutile", con người là nỗi đam mê vô ích. Tôi không cho là đam mê của Xuân Vinh vô ích đâu.

    Trong câu truyện mà bạn sắp đọc ở đây Xuân Vinh đưa bạn vào vườn hồng của thiên đường tình ái. Phong một thanh niên di cư một mình vào Nam, Phong gặp lại Vũ, người bạn cũ ở Hà Nội di cư với cả gia đình vào Sài Gòn. Vũ có người em gái út xinh xắn là Phương Vân. Sự gặp gỡ lại gia đình Vũ là duyên tiền định nối kết sự liên hệ yêu đương giữa hai người. Chàng vì tương lai nên đã xuất ngoại du học tại Pháp rồi trở về giúp nước, rồi lại sang Mỹ học thêm. Phương Vân ở tại xứ vẫn kiên nhẫn theo đuổi, chung thủy với mối tình lý tưởng, được ấp ủ qua nhiều lá thơ. Phần Phong ở xứ ngoài nhiều cám dỗ bởi đời sống vật chất, những xứ sở mà vấn đề tự do luyến ái, quan niệm cuộc sống buông thả. Sau thế chiến thứ hai thì sự chào đời của chủ nghĩa hiện sinh qua đầy rẫy sách báo mang tính hiện sinh quyến rũ lan tràn khắp phố phường như khu Saint-Germain, có nhiều nhà hát và các quán cà phê nổi tiếng với sự hiện diện của giới nhà văn và nghệ sĩ, nơi có quán Café de Flore được xem như tụ điểm của Chủ nghĩa hiện sinh, nơi chốn mà nhóm các nhà triết học như Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir thường hội họp. Người ta buông thả theo lối sống mới nghe nhạc Jazz lãng mạn, với mái tóc xõa dài, quần ống túm và ăn nói chào nhau phóng túng. Lối sống mới đó là một huyền thoại của hiện sinh. Kinh thành ánh sáng Paris muôn thuở vẫn vui như mở hội. Trong những cái vui buông thả hiện sinh đó đã không là một hấp lực khiến Phong xao lãng những mục đích của mình, người thanh niên Việt Nam vẫn âm thầm học hỏi, vẫn giữ liên lạc với Phương Vân. Trong muôn vàn cạm bẫy của đời sống, cốt truyện cho thấy những thử thách Phong như Mai Anh tại Boulder hay Hồng Vân tại Berkeley. Chàng là giáo sư dạy học tại cái nôi của phong trào phản chiến, phong trào hippies thiên dục tính, sống bừa bãi, mà Woodstock là một ví dụ điển hình. Để rồi hình ảnh của Phương Vân tại quê nhà là sự chọn lựa duy nhất của Phong mà cốt truyện đã cho thấy qua nhiều tiểu tiết được mô tả qua văn hay thơ. Mỗi nhà văn chọn cho mình những đam mê văn học, dù khép kín hay phóng khoáng, dù sự luyến ái tự do được diễn đạt theo phương Tây có những ngòi bút vang danh như Tennessee Williams, William Faulkner hay Francoise Sagan, nhưng cuốn sách này, trước tôi đây là một mối tình quê hương, ẩn chứa những tư tưởng phương Đông mà tôi mến yêu. Xin được vinh dự giới thiệu tác phẩm Tìm Nhau Từ Thuở của nhà văn Xuân Vinh. Doãn Quốc Sỹ

    Điểm sách

    TÌM NHAU TỪ THUỞ

    tác giả Xuân Vinh của Nhà văn Tạ Xuân Thạc

     

    Theo bản thảo thì "Tìm Nhau Từ Thuở" là một truyện tình. Phong, một nhân vật Nam vốn tài giỏi về nhiều phương diện, nhưng anh vẫn phải chật vật, vấn vương vì cô gái bé nhỏ là Phương Vân. Điều thực dễ hiểu vì đã là con người, nhất là người bình thường không ai tránh khỏi sự rung động con tim. Quân Vương như Trụ Vương say mê Đát Kỷ, Đường Minh Hoàng đem lòng luyến ái

    Dương Quý Phi.

    Tác giả Xuân Vinh đã khéo léo bố cục cốt truyện khi chàng trai hàn vi từ miền Bắc di cư vào miền Nam đơn chiếc rồi gặp lại bạn cũ tại Hà Nội là Vũ, và gia đình Vũ như chiếc nôi tinh thần cho Phong khi mà cuộc sống chàng rất đơn độc tại vùng đất mới. Từ gia đình Vũ, Phong quen với cô em út là Phương Vân, tức Mây. Mây chịu ơn chỉ dẫn bài vở của Phong, từ những liên hệ có tính cách học vấn đó Mây như phiêu lưu vào cơn say tình ái. Khi Vũ liên tục chạy theo đường công danh từ trong xứ, rồi đến khi Phong xuất ngoại du học bên Âu Châu, Mỹ Châu, tình yêu hai người được phát triển theo từng cánh thư vượt đại dương. Trong khi Phong gặt hái nhiều thành tích học vấn sáng chói, bằng cấp hiển vinh, rồi chàng làm giáo sư dạy tại Đại học tại Mỹ. Tuy vậy trong diễn trình tình yêu, Phong bị thử thách với những hoa hồng như cô sinh viên Y tá điều dưỡng Mai Anh tại thành phố Boulder hoặc cô Tham vụ Ngoại giao Hồng Vân. Đây là những kiều nữ thùy mị như Mai Anh và thông minh như Hồng Vân, cả hai có thể tạo sự lay động cho nỗi giằng co tâm trí nhất thời của chàng, nhưng họ không thay đổi được con tim, những gần gũi cần có của đôi tình nhân. Để rồi nước chảy về cội, tình yêu thực sự cuối cùng đã đến với Phong và Phương Vân ở chương cuối 14.

     

    Độc giả sẽ thấy nhiều bức thư tình được trao đổi giữa hai người, tình yêu của họ gắn bó qua lời văn hay những vần thơ, chữ nghĩa có khi vui, cũng như có lúc buồn. Mây có đôi mắt to và tròn, chính điều này khiến Phong dâng nguồn cảm tác thi phú như sau:

    Trời Sao Hình em ta giữ vẹn toàn, Phong tư còn đó ngỡ ngàng chiêm bao. Mắt em là cả trời sao, Gói hồn ta trọn đưa vào thiên thu. Có lần ở Colorado, Phong nhớ đôi mắt Mây mà chàng ví von như mắt đẹp hồ thu qua bài: Mắt Biếc Hồ Thu Mắt em là cả hồ thu, Tiếng em thánh thót như ru men tình. Ước sao chỉ có đôi mình. Nhưng đâu chỉ có chúng mình ước ao! Đêm nào ngước mắt trông sao, Cùng em, mơ ước nơi nào viễn du. Nhìn em, đáy mắt hồ thu, Anh quên giấc mộng viễn du nơi nào. Bâng khuâng gió lọt song đào, Nhớ đôi mắt biếc, hôm nào tương tư. Đường trần một cõi hoang vu, Đi hoài mới biết thiên thu nhớ người. Nơi đây có núi cùng đồi, Có con suối nhỏ, da trời mầu xanh. Em ngồi sõa tóc bên mành, Bài thơ anh mới viết thành tặng em.

    Tóm lại tác phẩm "Tìm Nhau Từ Thuở", khi đọc qua tôi cảm nhận rằng văn phong mà tác giả Xuân Vinh, dầu rằng ông là một khoa học gia lỗi lạc với nhiều số liệu toán học không gian vẫn đầy ắp trong tiềm thức của ông, nhưng khi viết văn ông đã không bị những giới hạn khô cằn bên kỹ thuật chi phối, trái lại lối văn ông viết rất linh hoạt, cảm thông, mô tả một tình yêu thương chan chứa, sự làm dáng hay thích nuông chiều của người con gái ở tuổi yêu đương. Cốt cách yêu thương của "cô bé" tiểu thư kín đáo chung thủy mà không xàm xỡ. Tác giả đã thành công về lãnh vực tả chân, sành về tâm lý của người tình nhỏ tuổi, và sự liên hệ tình

    cảm thủy chung chỉ với một người.

    Mời bạn, hãy đọc hết tác phẩm “Tìm Nhau Từ Thuở” của tác giả Xuân Vinh để bằng một cách nào đó cảm nhận rằng đời bạn cũng có một chút gì bàng bạc tâm tình đồng cảm với tác phẩm này vì qua đó, tác giả Xuân Vinh đã tôn vinh một tình yêu chung thủy và

    một tình yêu vĩnh cửu cao đẹp. Tạ Xuân Thạc

                

    Chương 5 (tiếp theo)

     

    Không Gian Buồn Nỗi Nhớ

     

    Sáng nay, tự dưng Phương Vân thấy buồn, gặp ngày cuối tuần mà mấy đứa bạn cùng lớp tới nhà rủ đi ciné, coi một phim mới nhất của Esther Williams, có nhiều màn vũ tuyệt diệu ở dưới nước, mà cô bé từ chối, viện cớ phải làm ít việc nhà. Sự thực suốt cả buổi sáng, cô bé chỉ ngồi thẫn thờ một mình ở bàn học, và đọc lại mấy bức thư cũ của anh, những bức thư mà bao giờ anh cũng bắt đầu bằng những chữ gửi “Mây thương mến”, anh dùng cái tên “Mây”, nghe bay lang thang nhẹ nhàng mà gia đình bao giờ cũng dùng để gọi cô bé thay cho cái tên văn vẻ hơn là Phương Vân, có nghĩa là “Áng Mây Lành”. Hôm nay, đúng là ngày mà một năm trước đây Phong rời nước để đi Hoa Kỳ du học. Mây còn nhớ, buổi tiễn anh đi, như chuyện mới xẩy ra ngày hôm qua. Ngày ấy cũng là một ngày đầu thu, trời Sài Gòn vẫn nóng, cái nóng quanh năm của miền Nam, nhưng vào một buổi sáng tạnh ráo, hơi có gió mát từ bờ sông thổi lại, bầu không khí trở nên trong lành, lý ra lòng người phải thấy phấn khởi, nhưng khi đi theo Vũ, là anh của cô bé, ra phi trường để tiễn Phong đi, cô lại thấy lòng nặng chĩu sầu tư. Lần đầu tiên trong đời, Mây cảm nhận thấy nỗi buồn xâu đậm của sự chia ly.

    Phi cảng Tân Sơn Nhất đã dành một phòng VIP để nhân viên trong Bộ Giao Thông Công Chánh và thân hữu tới tiễn Phong lên đường. Mây ngồi một mình ở một cái bàn ở góc buồng với ly nước cam anh đã thân hành mang lại, nhưng cô bé không buồn động đến. Thỉnh thoảng cô lại nhìn về phía Phong đang đứng nói chuyện với anh Vũ và những nhân viên đã ra tiễn chàng. Họ đều là những người lớn tuổi, những công chức, đã có một chút địa vị nào ở trong Bộ. Tự dưng Mây thấy mình thật là lẻ loi ở trong căn phòng này. Nếu trong lòng Phong có vương nỗi buồn của người ra đi thì Mây thấy anh cũng không lộ ra ngoài, vì Phong luôn luôn cười nói với mọi người. Cô nghĩ có lẽ là anh vui lắm vì sẽ được xa cô học trò hay bẻ hoẹ, hay giận dỗi, để bắt anh phải chiều chuộng. Anh xưa nay là con người Mây thấy dễ thương, dễ mến, mà giờ đây cô thấy anh thật là đáng ghét. Mây bậm môi, và tự nhủ thầm là sẽ để cho anh đi luôn, và không phải bận tâm nghĩ đến anh nữa. Thật ra trong lúc này lòng Phong cũng bồn chồn vì chàng không muốn để Mây ngồi một mình, lạc lõng trong căn phòng đông người ồn ào ra tiễn chàng. Với mỗi người tới để chúc chàng thượng lộ bình an, thâu gặt được kết quả mỹ mãn nơi xứ người, Phong đều có một câu cám ơn thật ân cần, và đồng thời cũng nhắc đến một kỷ niệm riêng trong thời gian cùng làm việc với nhau. Phong có một trí nhớ thật đặc biệt, giúp cho chàng thuộc tên từng ngưòi và công việc làm của nhân viên ấy để mỗi khi gặp, chàng lại nhắc đến và có một câu hỏi han khen ngợi, hay một lời nói khuyến khích, nên ngoài sự được người mến mộ vì tài năng, Phong cũng chiếm được cảm tình của những người cộng sự trong hai năm qua. Giờ đây, đứng trong phòng kính trên tầng hai của đại sảnh ở phi cảng, và nhìn xuống sân bay, nơi có chiếc phi cơ Boeing 707, mà chàng sẽ đi, đang nằm chờ đợi, và phía đằng xa phi đạo được mở rộng chạy dài, Phong có thể nhìn thấy một phần nào những công việc chàng đã thực hiện trong hai năm qua, kể từ ngày chàng ở Pháp về để nhận một chức vụ Tổng giám đốc với Bộ Công Chánh. Trong kế hoạch cải tổ lại toàn bộ sự giao thông thủy bộ và hàng không cho đất nước, việc thay thế các phi công Pháp bằng phi công Việt luân chuyển sang từ Không quân VN, Phong đã gặp chống đối nhiều nhất. Nhưng chàng cũng đã thực hiện được kế hoạch đề ra. Giờ đây hai hãng hàng không lớn của ngoại quốc là Air France và Pan American Airways đã không còn được hưởng độc quyền bay từ ngoại quốc vào Việt Nam như trước. Hàng không quốc gia Air VietNam cũng đã được tách ra biệt lập, khỏi cái bóng lâu năm của công ty hàng không Pháp. Cùng một lúc, những hệ thống giao thông thủy bộ cũng được cải tiến giúp cho sự chuyển vận hàng hoá giữa các miền của đất nước được nhanh chóng. Phong thuộc vào đám những kỹ sư trẻ thật lỗi lạc, tốt nghiệp từ những Trường lớn như Polytechnique và Centrale ở Pháp nên những chương trình canh tân chàng đưa ra thường hay gặp những chống đối từ phe thủ cựu, gồm các vị kỹ sư già. Cấp trên của chàng lại lo nhiều về chính trị, chỉ cốt giữ sao được địa vị của mình và không dám quyết định những cải tổ quan trọng, nên dù đã cố gắng rất nhiều và hết sức mềm dẻo để gom ý kiến của tất cả những người nắm giữ những Nha Sở quan trọng cho những kế hoạch chàng đưa ra, Phong cũng đã chỉ thực hiện được một phần nào những mục tiêu chàng muốn đạt được. Sau hai năm kiên trì làm việc, Phong đã xin từ chức và nhận một học bổng của Asia Foundation để sang Hoa Kỳ học thêm về Kỹ thuật và Quản trị Hành chánh. Chuyến đi này của Phong đã được những người bạn Mỹ, là những kỹ sư cao cấp đã được cử sang để làm việc với chàng ở Bộ Công Chánh, thu xếp thật chu đáo từ nửa năm nay. Chàng thấy cần phải đi ngoại quốc để học hỏi thêm và nhất là để liên kết với những chuyên gia người Việt ở đủ mọi ngành còn đang sống ở nhiều nước tiền tiến mà chưa chịu trở về làm việc để kiến thiết và canh tân quê hương. Phong chỉ hỏi thêm ý kiến và bàn với Vũ, là người bạn thiết, chàng luôn luôn giãi bầy tâm sự, còn ngoài ra những người khác trong gia đình Vũ chỉ biết tin truớc khi chàng đi chừng nửa tháng. Cô bé là người sau cùng biết tin anh ra đi, mà cũng chỉ qua chị Trinh báo cho biết. Mây đã cố ngăn giọt lệ muốn trào ra khi được tin này, và cô bé chỉ nằm gục xuống giường khóc nức nở khi chị đã xuống dưới nhà. Thì ra anh Phong đã chỉ coi cô bé như là cô em út của người bạn, thỉnh thoảng anh lại bàn việc với anh Vũ mà cô đem bài ra hỏi thì anh chỉ dẫn qua loa cho mà thôi, cốt để cô bé đi chỗ khác cho người lớn nói chuyện.

    ÎÍ

    Anh Phong đã là bạn thân của gia đình có lẽ tới gần mười năm, nhưng thực sự cô bé chỉ mới quen với anh cách đây hai năm khi anh học xong và từ Pháp trở về làm việc theo lời mời của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Khi còn bé, Mây không biết nhiều về anh, chỉ nghe những chuyện nói về anh như là huyền thoại. Các anh chị của cô bé đã "ca" anh quá xá, nào là anh học rất giỏi, nào là anh đã bắt bẻ bọn kỹ sư Tây, bắt phải vẽ lại hoạ đồ những công trình anh tham gia, nào là miền Bắc đã hết sức ve vãn anh, nhưng anh là người nhiệt tâm với quốc gia, và muốn đem sức mình đóng góp vào sự xây dựng đất nước cho phú cường nên anh và một số bè bạn đã trở về quê hương làm việc. Ngay cả Bố là người nghiêm nghị, ít nói mà, một lần với các con trong bữa ăn, ông đã phải dùng những chữ “quốc gia chi bảo” để khen tặng anh. Mới đầu gặp anh, cô bé thấy hơi sờ sợ, chỉ lí nhí chào trong miệng rồi khép nép vào nhà trong, mặc dầu các anh chị đã kể lại rằng khi xưa lúc Mây còn bé tý hon, và anh chưa đi Pháp học, có lần anh lại nhà chơi gặp cô bé khóc lóc về điều gì không được như ý, anh đã phải bế lên lòng dỗ dành. Hôm anh đến thăm gia đình lần đầu tiên, sau khi từ Pháp về nhận chức vụ được giao phó, vì được báo trước nên cả gia đình đã hiện diện đầy đủ, chỉ thiếu có Bố hôm trước có việc gấp phải sang HongKong vì công việc kinh doanh. Và như mọi việc quan trọng khác trong gia đình, Mây đã không được cho biết trước nên sáng hôm đó cô đã đi xem ciné xuất đồng hạng với các bạn Gia Long để lúc về nhà thấy mọi người đã tề tựu đông đủ quanh bàn ăn chỉ còn đợi cô bé về mới bắt đầu. Hôm đó Mây có cảm giác như là lần đầu tiên được gặp Phong, nhưng trong thâm tâm, giờ đây cô biết rất rõ về anh qua những câu chuyện Vũ kể lại cho các em nghe. Trong những ngày ở Pháp, mới đầu là đi học, và về sau này làm cho kỹ nghệ hàng không Âu châu, Phong thường viết thư về cho Vũ như người bạn thiết tâm sự và cho chàng biết công việc làm hiện tại của mình. Cô bé thực sự biết là mình có một người anh xa vắng khi được chị Trinh cho biết rằng: “Anh Phong gửi lời hỏi thăm Mây và muốn biết cô bé lớn chừng nào rồi và có còn hay khóc nữa không?”. Câu thăm hỏi của anh từ đó được nhắc lại đều đặn, mỗi khi Phong viết thư về cho gia đình Vũ làm Mây bắt đầu để ý đến Phong, và hình ảnh của anh cũng dần dần hiện ra trong trí óc non nớt của cô bé. Những mẩu chuyện về anh, những thành tích về học hành cũng như trong công việc làm đưa về từ phía trời Tây, qua những lá thư Phong viết về cho gia đình cô bé, đã như những lớp thiếp vàng óng ánh in dần vào trí não của Mây, và trước khi anh về nước cô bé đã hình dung được người mà gia đình cô hầu như nhắc đến hàng ngày, người ấy phải là con người tài trí tuyệt vời. Cô bé mong mỏi có ngày được gặp và biết thêm về anh.

     

    Cô nữ sinh tuổi vừa trăng tròn, vào hôm nay, một sáng đầu thu, ngồi trong phòng riêng và nhìn qua khung cửa xuống vườn sau nhà, lần đầu tiên cô bé thực sự biết thế nào là buồn khi phải xa nhau. Thế là anh đã đi rồi, vừa tròn một năm. Cuộc đời của anh, lúc nào cũng như là kết hợp bởi những chuyến đi. Lần đầu tiên anh từ giã gia đình để đi Pháp học thì cô bé lúc đó chỉ thực sự là một con bé. Mây chỉ nhớ mơ hồ rằng lúc đó ở nhà có một ông anh đi học xa như các anh chị thường nói đến. Rồi có một ngày những bức thư anh gửi về có kèm theo một câu hỏi thăm cô bé, Mây mới ngỡ ngàng biết đến anh như là một ngưòi bạn của anh Vũ, và cũng là người thân trong gia đình. Tuy ngày anh về, Phương Vân không ra đón anh ở phi trường, nhưng cô nóng lòng chờ ngày anh đến thăm nhà. Không ngờ hôm Phong đến, Mây lại không đuợc biết trước nên cô đã không có dịp mặc chiếc áo màu tím cô ưng ý nhất và đã dành sẵn cho dịp này. Mây không thể nào quên được hôm đó khi vừa bước chân vào trong nhà, thấy mọi người cùng ngồi sẵn đợi mình, cô bé sượng sùng cúi đầu chào rồi đi thẳng vào nhà trong. Mây ngồi xuống ghế, đưa tay đặt lên ngực cho đỡ hồi hộp, cô nghĩ giận mình đã không về sớm một chút để thay áo, mà nay cứ phải để nguyên hình không một chút trang điểm trên người để ra cho anh coi là cô bé khi xưa nay đã lớn chừng nào. Khi trở vào phòng ăn, thấy khuôn mặt rạng rỡ của Phong tươi cười hỏi mình, thật Mây không nhớ anh đã nói gì. Nhưng có một điều Mây tin chắc là nếu anh hỏi trông anh có khác như cô đã nghĩ hay không thì cô sẽ trả lời rằng tuy chỉ được nghe các anh chị nói về anh, nhưng lúc nào Mây cũng coi anh như là một người thân trong gia đình, và tình cảm này chắc chắn sẽ không thay đổi với tháng năm. Sau nhiều năm xa vắng, Phong đã trở về quê hương với tâm nguyện là đem hết tài trí của mình ra phục vụ cho quốc gia và dân tộc. Trong thời gian này, anh hay tới thăm gia đình Vũ vào dịp cuối tuần. Thường thì anh hay nói chuyện với anh Vũ và đôi khi với Bố. Nhưng anh là người tính tình vui vẻ dễ thân cận nên sau khi gặp anh vài lần, được nghe anh kể chuyện đời sống bên xứ người, cô bé không còn thấy anh như là một người khách xa lạ nữa. Ý tưởng về anh như là một thần tượng siêu việt cũng thay đổi dần dần, vì nay với cô bé Phong đã là một người hiện thực, và Mây chỉ thấy ở anh là một con người có nhiều tài năng và đầy nhiệt huyết, đáng để Mây trân kính. Rồi một lần, gặp một luận đề giảng văn cô giáo ra cho học sinh làm ở trường thật khó, ông anh Vũ của cô bé cũng không giải nghĩa nổi, Mây phải đánh liều tới cầu cứu cái ông anh từng học ở bên Tây này trở về, thì cô lại khám phá thêm được một điều mới lạ là anh Phong quả có một bồ chữ Hán Việt trong người. Anh lại có tài giảng bài thật rõ ràng, và Mây thấy là anh thật hiền, nên cô bé đã thầm ao ước rằng nếu được là học trò của anh thì chắc tương lai sẽ sáng sủa tưng bừng lắm. Từ đó nhờ có anh chỉ dẫn thêm mà từ một nữ sinh theo học trường Tây nay chuyển sang học ở Gia Long, theo chương trình Việt, các bài luận văn của Mây lại thường hay được chấm nhất ở trong lớp. Có một hôm anh hỏi Mây về những môn Toán theo học thì cô bé phải thú thực rằng chỉ luôn luôn được ở mức trung bình. Mây còn nhớ là hôm đó anh Phong đã cười ngất mà nói: "Nhà có hai ông anh thì một ông là cử nhân toán và một ông là kỹ sư kiến tạo mà để cô em thân thương chỉ có trình độ toán pháp ở chỗ trung trung mà thôi". Cô bé ngượng đỏ mặt và chỉ hứ anh một tiếng rồi sau đó tránh gặp Phong suốt cả một tuần lễ.

    Mây còn nhớ rõ giờ phút chia tay với Phong ở phi trường. Anh đã bắt tay từ biệt những người đưa tiễn và cả anh Vũ cũng đã xuống dưới lầu, chỉ còn lại cô bé ngồi yên lặng trước ly nước cam cô chưa đụng tới. Anh đã tới ngồi xuống bên cạnh, và cầm lấy tay cô bé ân cần dặn dò ở nhà cố gắng chăm học, anh chỉ đi ba năm rồi sẽ trở về. Lúc đó Mây đã vào đại học, và chắc không còn cần đến anh để kèm học nữa, anh đã nói như vậy. Cô bé đã cố ghìm lại hai hàng nước mắt như muốn trào ra. Thì ra trong hai năm vừa qua, anh đã chỉ coi cô như là một cô học trò nhỏ bé, đã dốt cả văn lại dốt cả toán, và anh đã có công rèn luyện đạt tới trình độ có thể qua được những khoá thi tú tài trong những năm tới để rồi cô bé vào đại học, kiếm được một văn bằng chuyên môn nào đó, về dược khoa hay sư phạm và có một gia đình yên ấm, sống cuộc đời phong lưu nhàn hạ. Mây nghĩ đó là ước vọng của anh, cho cô. Và chỉ có thế thôi. Vậy thì những lần cô bé ngồi nghe anh kể những cảnh lạ đường xa, những nơi anh đã đặt chân tới, những đêm không trăng anh ngồi trên bãi biển Nice ở miền Nam nước Pháp, nghĩ đến không gian xa vời, đến những bí hiểm trong vũ trụ, đến thân phận con người nhỏ bé, anh đã kể cho Mây nghe những mơ ước của anh, và cô bé đã như được ru trong mộng, cô đã cảm thấy những gì bao la bát ngát trong cuộc đời trôi nổi của anh. Nhìn bề ngoài, ai cũng thấy anh là người vui vẻ dễ gây cảm tình, nhưng khi nghe anh tâm sự, Mây như cảm thông được nỗi cô đơn của anh. Mây chưa bao giờ thấy anh nhắc tới những cô bạn gái mà Mây tin chắc thế nào anh cũng đã có trong những năm ở bên Pháp. Và còn nhiều lần khác nữa, nghe anh kể chuyện cô đã tưởng như được đi cùng anh tới những nơi ở góc biển chân trời, chỉ có hai người, cô nghe anh nói chuyện thật say mê, cuộc đời tươi đẹp, nhẹ nhàng như chỉ có gió thoảng mây bay. Những lúc đó Mây không nghĩ mình chỉ là cô học trò bé nhỏ của anh nữa, mà là người để nghe anh tâm sự. Cô biết là chỉ với mình, anh mới nói như vậy, vì mỗi lần cô bé thấy anh và anh Vũ nói chuyện với nhau thì hai người cùng hăng hái trình bầy quan điểm của mình, đôi khi như không ai muốn nhường ai. Còn với những người khác trong gia đình thì chỉ là những câu chuyện thường tình trong xã hội đương thời. Cô thấy cả nhà ai cũng qúy mến anh, nhưng riêng với Mây thì tình cảm của cô đối với anh thật là đặc biệt. Nhiều lúc Mây thấy như tự mâu thuẫn với chính mình. Cô thấy nếu tự coi mình như là học trò của anh thì sẽ phải sợ anh mắng là dốt, là lười không chịu làm bài, gặp anh là phải khép nép, thưa gửi. Nhưng sự thực lại trái hẳn, vì đối với Mây anh lại hết sức cưng chiều. Cô là người hay dễ giận hờn, và đã nhiều lần anh phải dỗ ngọt cho cô bé tươi lại nét mặt. Điều này lại là một sự bí mật được giữ kín giữa hai người vì Mây rất sợ ông anh cả trong nhà. Nếu Vũ biết được Mây hay nhõng nhẽo và làm cho Phong phải bận tâm thì lập tức anh sẽ ra lệnh ngay rằng từ nay Mây không được đem bài tới hỏi để quấy rầy Phong nữa. Nếu thấy cần thì Vũ sẽ cho cô bé đi học những lớp luyện thi, mà điều này đối với Mây thì thực là trần ai khổ sở vì cô đã được mấy con bạn cùng lớp cho biết là những lớp học này đều đông đúc, ngột ngạt, và mở vào những giờ giấc không thuận tiện chút nào, đã ghi tên học thì không còn thì giờ đâu mà đi dạo phố và coi ciné nữa. Mây còn nhớ tình huống lúc cùng anh chia tay, khi đã đến giờ có một nhân viên an ninh phi trường tới hướng dẫn Phong xuống thang lầu và đi một cửa riêng để ra sân bay lên phi cơ trước những hành khách thường. Dù cho giờ đây chàng không còn giữ một chức vụ gì, nhưng Nha Hàng Không Dân Sự đã dành cho Phong một sự tiễn đưa đặc biệt như là một trân trọng cho một người đã đưa lại sự độc lập và thịnh vượng cho nền Hàng Không Việt Nam. Khi thấy Phong đứng dậy, Mây biết đây là giờ phút phân ly, với một người mà cho tới nay cô cũng không biết là coi như một người anh thân thương hay là một người thầy qúy trọng. Mây đưa vội cho anh gói quà cô đã mang theo để anh giữ làm kỷ vật khi xa nhà, và xoay người lại không đối diện với anh nữa, vì cô biết là mình sẽ khóc oà lên nếu phải nhìn anh bước xuống thang lầu. Hồi lâu, khi thấy chung quanh mình đã trở nên yên tĩnh, Mây quay lại và chợt nhớ ra điều gì, cô chạy vụt tới khung kính để vừa kịp nhìn thấy anh bước mấy bậc thang cuối cùng để vào chiếc phi cơ khổng lồ sẽ đưa anh tới Hoa Kỳ cách xa quê hương hàng vạn dậm. Trước khi Phong vào cửa phi cơ, Mây thấy anh ngần ngừ rồi quay người lại đưa tay vẫy chào những người đưa tiễn còn đứng dưới sân và trong khoảnh khắc anh thoáng nhìn về phía lầu nơi cô đang đứng. Mây thấy như nghẹn thở, vội chớp mắt và cúi đầu nhìn xuống, nhưng khi ngửng lên thì anh đã bước vào trong thân tầu. Thế là anh đi rồi. Người về như chớp nhoáng, người đi cũng vội vàng. Thủa xưa xa xôi khi còn bé thì Phương Vân không nhớ, nhưng nay mới làm quen lại anh, thì anh lại rời nước ra đi. Hôm tiễn anh đi, khi trở về nhà, cô bé nghĩ thầm rằng, đối với mình, anh chỉ như là cơn gió thoảng qua đám mây đang lững lờ trôi, và giờ đây, anh đã đi rồi, gió cũng tiêu tan, để áng mây lành ở lại. Không biết đến bao giờ anh mới trở lại quê hương.                                                    

    ÎÍ

    Hôm nay, ngồi một mình trong phòng vắng lạnh, Phương Vân thấy nhớ anh da diết. Anh đã không đi hẳn, rời khỏi cuộc đời cô, như cô bé đã lo ngại vẩn vơ. Tuy nay anh đã ở xa vời, cách nửa vòng trái cầu nhưng anh vẫn viết thư về, cho mọi người biết tin anh, gia đình cô bé hiện giờ là quyến thuộc của anh vì Phong đã không còn liên hệ với miền Bắc. Ngày đầu tiên khi đã dọn vào căn phòng đại học dành cho chàng, Phong mở gói quà cô bé đã đưa tận tay cho mình thì thấy là một khung ảnh có hình của cô bé khi còn bé tí hon, với đôi mắt thật đen dưới đôi hàng lông mày cong trên khuôn mặt tròn xinh sắn. Kèm theo tấm hình là một miếng giấy nhỏ với hàng chữ viết thật đều, nét mềm mại: “Khi xưa, lúc Mây còn bé được anh chiều hơn bây giờ. Nhìn thấy hình này thì anh nhớ viết thư về cho Mây, nếu không, Mây sẽ nghỉ chơi cho anh biết thân.” Tấm hình của Mây, để trên bàn học, đã luôn luôn nhắc nhở Phong tới gia đình người bạn, mà từ hai năm qua đã luôn luôn hỗ trợ tinh thần chàng. Lớn lên trong hoàn cảnh chiến tranh của đất nước Phong đã như một đám mây trôi theo gió lưu lạc phương trời. Nhưng giờ đây với chàng, gió hình như đã ngừng lại làm mây tụ lại một nơi. Phong đã viết thư về, cho Vũ là người bạn thân thiết đã có nhiều năm giao tình, và cũng vì chàng đã không thể nào quên được đôi mắt đen như vương ngấn lệ của một cô bé đêm nào nắm lấy áo chàng và ngửng đầu lên cầu cứu. Ở nhà, mỗi tháng đôi lần, Vũ vẫn nhận được thư của Phong viết về cho biết tin tức ở nước ngoài, và công việc hiện tại của mình, và Vũ cũng viết sang cho người bạn về tin chiến sự, và đặc biệt về tình hình chính trị ở bên nhà. Là bạn thân lâu ngày tâm sự, Vũ biết là Phong khi ra đi đã tự chọn cho mình một sứ mạng là liên kết với những chuyên gia Việt có tài năng ở hải ngoại, cùng chung một lý tưởng là phục vụ quốc gia và dân tộc, để sau này có dịp sẽ cùng về kiến thiết và canh tân xứ sở thành một nước tự do, dân chủ và thịnh vượng. Trước ngày Phong ra đi, Vũ và một số bạn bè thân thiết và cùng chí hướng đã tổ chức một bữa cơm tiễn đưa và tặng chàng một tấm bảng có khắc bốn câu thơ Gió mây lưu lạc về chưa, Để anh gom lại làm mưa Xuân hồng. Trời xưa, thư kiếm vẫy vùng, Quê hương mở hội, anh hùng là ai? Những lời nhắn của Mây và những câu thơ của bằng hữu đã in vào trong tâm khảm của người đi. Nếu Vũ có niềm tin nào vào Phong thì Mây hoàn toàn không biết. Cô bé chỉ hiểu lờ mờ rằng ông anh của mình là người ủng hộ nhiệt thành những dự định tương lai của Phong, và anh vẫn thường xuyên liên lạc với anh Vũ. Nhưng từ nay Mây không còn phải biết tin của Phong qua các anh chị đã nhận được thư của anh gửi về nữa vì cô bé cũng nhận được thư đều đặn của anh. Bức thư ngắn đầu tiên mà Phong viết cho cô bé đã mở ra một nhịp cầu thông cảm. Và Mây đã dần dần hiểu anh hơn. Tuy anh có nhiều bằng hữu nhưng cô bé vẫn thấy anh là người cô đơn trong tâm tưởng. Có lần anh viết về: “Hôm nay trời ở đây đã cuối thu, lá vàng ngoài song cửa đã bắt đầu rơi rụng. Buổi chiều sau giờ học anh tới phòng ăn rồi mới trở về buồng. Cuối thu và sang đầu đông, trời ở đây tối sớm hơn bên nhà, và theo vết chân người đi tiếng lá kêu sào sạc. Cảnh vật thật là yên tĩnh, chỉ có tiếng chân đi trên lá khô là đưa lại một chút sinh động cho buổi tối trời. Anh dừng chân ở đầu ngõ, tìm hộp thư của mình và thấy lá thư của Mây gửi sang. Đêm nay ngồi đọc thư Mây viết, căn phòng sẽ thêm ấm cúng và anh cũng sẽ thấy bớt cô đơn.” Đọc những thư như thế này cô bé thấy thật thương anh, vì anh đang có một địa vị tốt đẹp ở bên nhà mà chỉ vì muốn sau này có đủ khả năng và nhân tài trợ lực để có thể làm được gì hữu hiệu hơn mà anh phải trở về đời sống sinh viên thật đạm bạc. Nhưng cũng có những thư của anh toàn có chuyện vui, anh viết cho cô bé với giọng ngọt ngào thường lệ. Chị Trinh là người hàng ngày lấy thư vào cho cả nhà vì chị theo học Văn Khoa bao giờ cũng về sớm. Những hôm nhìn thấy cô em có nét mặt tươi vui sau khi đọc thư của Phong gửi về, đôi khi chị tò mò hỏi: “Anh Phong có tin gì lạ không?”. Cô bé chỉ trả lời: “Không! Anh chỉ dặn phải chăm học mà thôi!” Chị Trinh gật đầu thông cảm, nhưng lớn hơn Mây nhiều tuổi chị dư biết là tối hôm nay Mây sẽ đưa những lời căn dặn của anh vào Mộng.

     

    (Còn tiếp)

     

    (11/10/2014)

Những tin cũ hơn

  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 1
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 1

    Tuyển Tập 9  

    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 16
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 16

    Thơ Doãn Quốc Vinh Doãn Quốc Vinh hâu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ, cố Vấn VĐĐT. Những tập thơ DQV sáng tác đã được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang, tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 3 tập thơ : Lục Bát Tùy Bút , Lục Bát Đôi Bờ và Thơ Tình của  Doãn Quốc Vinh

    (05/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 15
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 15

    Title: Em Sài Gòn Artist: Quang Minh Composer: Minh Tuấn Harmonist: Quang Đạt Lyricist: N&L: Nguyên Phan Minh Tuấn

     

    (05/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 7
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 7

    Một Thời Để Nhớ
    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 6
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 6

    Chiều Cali đọc thơ Quỳnh Giao - Lê Bình –

    Lòng mang những niềm riêng trong cái chung của quê hương. Dù ra đi xa vạn dặm, tình quê mãi mãi mang theo. Nỗi niềm riêng hay tiếng thở dài? Quỳnh Giao ghi lại: "Cây có cội nước có nguồn," Từ đi mang cả nỗi buồn tái tê Dù cho lạc dấu chân về Cũng không quên được tình quê trong đời" Bà Huyện Thanh Quan nhớ nhà khi chiều về: "Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Gác mái ngư ông về viễn phố Gõ sừng mục tử lại cô thôn Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Kẻ chốn chương đài người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn"

    (04/12/2011)
Tin tức
  • Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT
    Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT

    CHƯƠNG TRÌNH GIỚI THIỆU

    TUYỂN TẬP ĐỒNG TÂM SỐ 12 & WEB SITE

    www.VanDan-DongTam.org TẠI HOUSTON TEXAS VÀO NGÀY 15 THÁNG 05 NĂM 2011

    Từ mấy tuần trước ngày Giới Thiệu Sách (GTS), tôi đã nhận được thông báo qua email, và qua diễn đàn của Văn Đàn Đồng Tâm rằng: vào ngày 15- 5- 2011, Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT) sẽ có buổi giới thiệu Tuyển Tập Đồng Tâm số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, và chính thức ra mắt web site vandan-dongtam.org, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi 8282 đường Bellaire, khu Southwest Houston. 

     

    (29/05/2011)
  • Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
    Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
      Doãn Quốc Vinh Dùng Nghệ Thuật Để ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’

     

    Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ - cố Vấn VĐĐT, đã sáng tác và thực hiện những tập thơ  được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang,  tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 4 tập thơ :  Lục Bát Tùy Bút ,  Lục Bát Đôi Bờ, Lục Bát Ru Hời  và  Lục Bát Tình của Doãn Quốc Vinh DOÃN QUỐC VINH với đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim, California.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) xin hân hạnh giới thiệu và thân mời quý văn thi hữu và đồng hương tham gia ủng hộ thật đông đảo.

     

     

    * * * * *

    Từ “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” Gần đây, tôi được dịp đọc lại “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trên trang SángTạo.org. Đọc công khai, đọc bao nhiêu lần tùy thích. Càng đọc, càng thích. Càng đọc, càng u ẩn niềm quê. Càng đọc, càng muốn khóc cho cái điêu linh của quê hương, dân tộc, cho cái nhục nhằn của sinh linh. Càng đọc, càng muốn đi tìm tác giả, để cám ơn ông đã cho tôi được sống với đất nước trong một giai đoạn trước khi tôi chào đời. Càng đọc, càng nhớ lại cái lần đầu tiên gặp Doãn Quốc Sỹ trong cái tủ kính khóa chặt của ông Ngoại tôi ở một vùng quê miền Tây Nam đất Việt. Tôi đọc lén. Lén cái chính quyền sau 1975. Lén cả ông Ngoại tôi, vì sách quý, con nít biết gì mà động vào. Tuy sau này tôi mới biết, ông tôi không hề cấm con cháu đọc sách của ông, dù ông quý sách hơn cả vàng (nên tôi oai hùng mượn ông quyển “Ba Sinh Hương Lửa” và vác về nhà đọc một cách hết sức chính quy). “Ngàn vàng dễ kiếm, lời tốt khó tìm.” Quý là đúng. Và quý nhất là cái thông điệp mà nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã trân trọng gửi gắm cho độc giả ở cuối truyện. Với cái ngôn ngữ giản dị và một tâm hồn thuần Nho, ông nói lên một sự thật và một thực tế mấu chốt của thời đại chúng ta. “Ở thế giới thực dân tư bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” “Tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” Tình thương yêu ấy, nó có mùi vị gì, màu sắc ra sao, kích cỡ thế nào, hình dáng làm sao? Theo tôi, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã xuất sắc trong việc tề gia, để câu trả lời nằm chính ngay trong huyết mạch lưu truyền của ông. Đến “Niêu Cơm Quê Nhà” Con nhà tông, nên chắc chắn phải giống lông giống cánh. Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, đã được bú mớm cái dòng sữa của mẹ và cái dòng tư tưởng của cha từ trong nôi. Doãn Quốc Vinh được biết đến nhiều như một họa sỹ, qua các cuộc triển lãm “Ao Nhà Lung Linh” hay “Chuyện Trò Với Lá,” vừa xuất thần trong bản sắc dân tộc, vừa bật tung những sáng tạo hiện đại. Nhưng Doãn Quốc Vinh cũng dính líu với chữ nghĩa, có lẽ vì cái duyên nghiệp viết lách còn quá nồng nàn giữa hai thế hệ của Doãn gia. Tôi đặc biệt quan tâm đến “Niêu Cơm Quê Nhà,” một bài thơ Doãn Quốc Vinh viết tặng cho người thân ở xa, khi anh còn ở tại Sài Gòn, vào năm 2005.

    Bài thơ dung dị và dân dã như cái niêu cơm, như ý niệm quê nhà, như mối tình thôn quê thuần nông nghiệp. Bài thơ được ‘nấu’ như thế này: “…lạy trời , lạy đất , lạy mây lạy cho lúa chín trĩu đầy hạt thơm lạy cho xó bếp nhiều rơm để tôi thổi chín niêu cơm quê nhà mời anh , mời chị ở xa ghé chơi … xơi chén cơm cà với tôi bát canh bông bí ngọt chồi vại dưa , khoanh cá, khúc dồi … chân quê dăm năm thu vén bộn bề này anh, này chị đường về nhớ chăng?” Doãn Quốc Vinh đã thể hiện “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” một cách thật cụ thể trong bài thơ này. Anh cầu khẩn cho có được những điều kiện cần thiết để nấu một bữa cơm nhà quê, để mời những anh những chị đang sống xa quê, vài năm “thu vén bộn bề” một lần, về lại. Anh mong họ được hưởng lại cái không gian quê nhà ngay trên đầu lưỡi. Không dưng anh làm cho tôi thèm mùi khói rơm quá! Nhưng cái sự chuyên cẩn trong từng cái lạy, cái chọn món, cái ‘thổi’ cơm (rất dân dã, và hầu như chỉ còn ở thôn quê Việt Nam vì sự bành trướng của bếp ga, bếp điện) – tất cả bày ra một mâm cỗ của yêu thương, thông cảm, chia sớt. Người-ở-lại Doãn Quốc Vinh đã “chân thành” và cũng rất “rộng rãi” với tâm sức của mình khi đi ngược dòng thời gian, thổi một “niêu cơm quê nhà” để làm ấm lòng người đi xa. Cho đến khi chính anh cũng là người đang đi xa, thì anh lại tiếp tục ‘thổi’ cơm để gửi về cho những đồng bào ở lại, nhất là những đồng bào nghèo khó. Dùng hội họa để “Cho Em Niềm Hy Vọng 9” Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ cơm cho những người nghèo khổ trên quê hương bằng cách nào? Anh không lạy trời lạy mây nữa. Anh vẽ. Anh đã chọn những bức tranh ưng ý của mình để bán gây quỹ cho SAP-VN tại đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim. Nếu tình người bàng bạc trong văn chương chữ nghĩa của cha con họ Doãn, thì tình người là một nếp sống hằng ngày trong gia đình này. Doãn gia đã cưu mang bao người cơ bần, ngay giữa lúc họ Doãn cũng phải đối diện với khó khăn thời chiến. Họ Doãn đã dùng cái “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” để sống và làm chủ đạo cho dòng tộc mình. Cho nên việc họa sĩ Doãn Quốc Vinh đưa cái “tình thương yêu rộng rãi” ấy đến góp tay với SAP-VN để phục vụ đồng bào trong cảnh khốn cùng, âu chỉ là một việc tất yếu. SAP-VN, với tất cả những thành quả trong hoạt động từ thiện gần hai thập niên qua, đã đón nhận sự giúp đỡ hết mình của biết bao nhân tài và mạnh thường quân. Nhưng sự giúp đỡ của Doãn Quốc Vinh lần này làm cho tôi xúc động theo lũy thừa đôi, có lẽ vì anh diễn đạt cái ‘tình quê’ một cách tự nhiên và sâu sắc, nhất là qua những bài thơ và phát biểu của anh. Trong thời gian chuẩn bị cho ngày gây quỹ, thân mẫu của anh, bà Doãn Quốc Sỹ, nhũ danh Hoàng Thị Thảo, đã hấp hối và qua đời đầu tháng Chín tại Houston, Texas. Có lẽ bà là một trong những người đàn bà hạnh phúc nhất, vì đã có một người phối ngẫu giàu lòng nhân ái như vị văn tài Doãn Quốc Sỹ, đã cùng bà nuôi nấng những người con có tấm lòng tha thiết với quê hương và với đồng bào như Doãn Quốc Vinh. Kính mời quý đồng hương cùng đến, thưởng lãm những “niêu cơm quê nhà” mà Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ bằng óc sáng tạo và nét cọ tài ba, để cùng SAP-VN thắp sáng tình quê trên những vùng nhân sinh nghèo khổ của quê hương. Nếu không có quý vị, “niêu cơm quê nhà” của Doãn Quốc Vinh sẽ không “chín” nổi vì thiếu lửa. Quý đồng hương có thể mua vé trước tại Nhà Sách Tự Lực (714 531 5290, 714 531 5290), hoặc Tiệm Kính Optometry (714 418 0190, 714 418 0190), hay qua email tại (sapvntix@gmail.com). Nếu có thắc mắc về chương trình gây quỹ, xin quý vị gọi số điện thoại 714-901-1997, 714-901-1997. Xin hẹn cùng ‘ăn cơm quê nhà’ với quý vị lúc 4:30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011 tại Nhà hàng Mon Amour (Mon Cheri 2 cũ), tọa lạc tại 3150 W. Lincoln Ave, #134, Anaheim, CA 92801.

     

    Trangđài Glassey-Trầnguyễn

     

     

     

    (10/10/2011)
  • Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng
    Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng

     

                               

     

    Thư Mời

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) trân trọng kính mời quý văn nghệ sĩ và đồng hương thân hữu, vui lòng dành chút thời gian đến tham dự buổi liên hoan văn nghệ giới thiệu tuyển tập VDDT số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi, địa chỉ 8282 Bellaire Blvd. Houston TX 77072, vào chiều Chúa nhật, ngày 15 tháng 05 năm 2011, từ 4PM đến 9PM.

     

    Chương trình gồm nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, hấp dẫn do nhiều nghệ sĩ tham gia trình diễn (Hoàng Kim Khánh, Sonny Phan, Lệ Ngọc, Nguyệt Khánh, J. Ngọc, Nhật Hạnh, Phan Thanh, v.v…)

     

    Vào Cửa Tự Do. Phục vụ Ẩm Thực Miễn Phí.

    Tặng Quà Lưu Niệm. Dạ Vũ Vui Nhộn.

     

    Sự hiện diện của quý vị là một vinh dự và niềm khích lệ lớn lao đối với VDDT.

    Trân trọng kính mời

     

    Thay mặt Ban Tổ Chức

     

    Cù Hoà Phong

    281-975-9782

     

    P.S. Vì chỗ ngồi có giới hạn, xin quý vị vui lòng sớm ghi danh tham dự qua email vandandongtam@gmail.com hay điện thoại cho Tạ Xuân Thạc (281-370-0233), Cù Hoà Phong (281-975-9782) để nhận vé mời.

    Xin chân thành cám ơn.

     

     

                            

     

     

     

     

     

     

    (12/05/2011)
Quảng cáo
Northside Domestic & Import
Nguyen Phi Loi
Mark D.Le M.D.,P.A
Nhan Hien
drmainguyen
PharmTrustPharmacy
Nguyen Quoc Dung
nicolasdetal
Tofu
TRỢ CẤP TÀN TẬT – SSI
KS Bellaire